Biết ơn thầy cô thì sẽ trở thành con ngoan trò giỏi. Học và hành giúp chúng ta tích cực tự tin và chủ động trong cuộc sống, trở thành người có ích cho xã hội. Quá trình thực hành vận dụng sẽ giúp người đọc khắc sâu được những kiến thức, kĩ năng trau dồi. Học đi Bài giảng Ngữ văn 11 - Vội vàng (Xuân Diệu) Bài giảng Ngữ văn 11 - Người cầm quyền khôi phục uy quyền; Bài giảng Ngữ văn 11 - Câu cá mùa thu tác giả Nguyễn Khuyến; Bài giảng Ngữ văn 11 - Tiết 9: Phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận; Bài giảng Ngữ văn 11 - Bài Với 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên ta thấy Nguyễn Du xứng đáng là bậc thầy trong việc áp dụng ngôn ngữ. Và chấp nhận cuộc hôn nhân duyên nợ này, bà chấp nhận một ông đồ nho ngông "tám khoa chưa khỏi phạm trường quy", bà chấp nhận vị quan "ăn lương vợ" nên bà đâu "dám quản công": "Năm nắng mười mưa dám quản công" Thành ngữ "dầm mưa dãi nắng" được tác giả vận dụng sáng tạo thành "năm nắng mười mưa". Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Những vấn đề lý luận thường gặp trong đề thi học sinh giỏi ngữ văn. 1. Trang 1 Luyện thi học sinh giỏi Môn Ngữ văn Tập 2 PHẦN MỞ ĐẦU : MỘT VÀI LƯU Ý CHUNG 1. Về phía giáo viên Lựa chọn nhân tố Bồi dưỡng học sinh giỏi 2. Về phía học sinh Yêu cầu cơ bản Yêu cầu Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Nợ Xấu. Bài nghị luận văn học Trao duyên Bài viết hôm nay Cunghocvui xin giới thiệu với các bạn về nghị luận văn học bài Trao duyên! Bài mẫu Nghị luận văn học Trao duyên Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam và cũng là của thế tên là Tố Như, hiệu là Thanh sinh ra trong một gia đình phong kiến quý tộc và sống trong xã hội phong kiến – Một xã hội suy thoái, thối nát. Nguyễn Du đã từng trải qua hơn chục năm sống gian khổ ở nhiều vùng quê khác nhau, nếm đủ những thứ vị đắng cay của cuộc sống phong trần. Trong đó có mùi vị của sự chia ly, dang dở của tình yêu đôi khi đi sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Du sáng tác nên đại thi phẩm bất hủ ”Truyện Kiều”. Đoạn trích “Trao Duyên”là một đoạn trích thể hiện khá rõ bi kịch tan vỡ, dang dỡ của tình yêu Thuý Kiều – Kim Trọng và nỗi đau tột cùng của Kiều về số phận bi kịch của nàng, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa xuyên suốt trong thơ Nguyễn Du trước những đau khổ, bất hạnh cũng như khát vọng hạnh phúc của con người. Cùng nhau tìm hiểu nội dung nghị luận văn học Trao duyên 12 câu đầu để hiểu rõ về mối tình Kiều – Trọng. Sau khi giải quyết xong thủ tục bán mình “Tờ hoa đã ký-cân vàng mới trao”, lấy tiền lo cho vụ kiện nhà Kiều, ngày mai Kiều sẽ phải rời theo Mã Giám Sinh ra ấy Kiều bồi hồi thương cho chàng Kim, tìm cách trả nghĩa nợ tình cho thắp sáng đêm, nước mắt đầm Thúy Vân thức dậy hỏi, Kiều bây giờ mới cậy em thay lời và trao duyên cho tình Kim-Kiều đâu phải là mối tình trăng gió thoảng là mối tình đầu say đắm nhất, trong sáng mà giờ đây phải đem mối tình ấy trao cho người khác – còn có nỗi đau nào hơn?!Lời Thuý Kiều nói với em đau đến từng chữ Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa Mở đầu cuộc trao duyên, Thuý Kiều có cách nói, cách xưng hô đặc sao Kiều không nói “nhờ em” mà lại nói “cậy em” ?Bởi vì chữ cậy bao hàm ý hy vọng tha thiết của một lời trông cậy, có ý nương tựa, tin tưởng nơi quan hệ ruột thịt, gửi gắm nỗi khẩn khoản thiết nói “em có chịu lời” chứ không nói “em có nhận lời” ngoài lý do từ “chịu lời” mang sắc thái bắt buộc, Kiều muốn em không được từ chối đề nghị của mình mà còn bởi vì Kiều cảm thấy đây là một sự thiệt thòi, một sự hy sinh lớn lao của em Vân – em sẽ phải yêu và kết duyên vợ chồng với một người mà mình chưa nói như thế phù hợp với hoàn cảnh và tâm trạng van nài, khẩn thiết của xưa, giáo lý phong kiến thời xưa rất nghiêm nay bề dưới lạy bề trên, em phải thưa gửi lễ phép khi nói với lúc này, Kiều lại đang bảo em “ngồi lên” rồi “lạy”, ”thưa”.Tại sao Kiều lại chấp nhận hạ mình xuống hàng thấp của người thấp vế?Bởi vì việc và Kiều sắp “cậy” em là một việc rất hệ thế “lạy”, ”thưa” là tư thế của một người chịu ơn với ân nhân của vậy, em Vân sẽ phải thay Kiều hy sinh tình duyên của mình mà giúp Kiều nối duyên với chàng Kim, việc làm đó Kiều mang ơn em rất ra, hành động “lạy”, ”thưa” của Kiều còn tạo ra một bầu không khí nghiêm trang, trịnh trọng, Kiều “vưa tình vừa lễ”, làm cho em không thể không nhận cách dùng từ khéo léo và đầy sắc thái ý nghĩa, chỉ qua hai câu thơ, Nguyễn Du đã mở đầu cuộc trao duyên đầu hồi hộp, trang trọng và đồng thời thể hiện hoàn cảnh éo le, tâm trạng khẩn thiết, bế tắc của Du không kể lại thái độ của Thuý Vân ra sao bởi vì hai câu đầu chỉ là lời bày tỏ ý là sau đó, Kiều nói ngay đến mối tình dang dở của mình Giữ đường đứt gánh tương tư Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em Trong thời đại phong kiến, không được phép tự do yêu đương, thì đây là một tâm sự còn giấu kín của đây Kiều buộc phải nói rõ cho em xưa xem tình yêu là một gánh nặng, cho nên người ta hay nói”gánh tương tư”.Mối tình của Kiều và chàng Kim đang đến độ đắm say nhất, nồng nàn nhất.”gánh tương tư”của Kiều giờ đây nặng hơn bao giờ trêu thay, cơn gia biến ập đến với đang “giữa đường”, đang gánh một “gánh tương tư” nặng trĩu thì gánh đứt, không sao mang xách lại ảnh ấy đã thể hiện rõ tâm trạng bất lực của vì thế mà giờ đây, Kiều phó thác “gánh tương tư” bị gãy – hay nói theo cách của Kiều là tơ duyên mối vướng – lại cho em đối với Thuý Vân, đó là một “mối tơ thừa”.Kiều hiểu thấu cảm giác thiệt thòi của em nên nói thẳng ra”Mặc em”, có nghĩa là “phó mặc cho em đó, dang dở hay không em cũng phải gánh vác, chắp nối cho hết sức mong em dùng thứ keo bền nhất – “keo loan”, thứ keo chế bằng huyết chim loan – để “chắp mối tơ thừa” này và sao cho nó không bao giờ đứt nói này mang giọng điệu của người chị phó thác cho em, nên câu thơ mang sắc thái dứt khoát, nghiêm trang và mang nhiều “sức nặng” của giọng điệu. Không còn gì để mất nữa, đến lúc này Kiều có thể bình tĩnh nói cặn kẽ chuyện tình, nỗi đau của mình Kể từ khi gặp chàng Kim Khi ngày quạt ước khi đêm chén hề Sự đâu sóng gió bất kì Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai Đây là những điều bí mật của Kiều mà Thuý Vân chưa hề được biết, là điều lễ giáo phong kiến cấm kỵ, nhưng bây giờ, Kiều buộc phải thành thật kể cho em nghe, với hy vọng một sự thông cảm chia nói của Kiều thật bình tĩnh, rõ ràng và ngẹn ngào, cặn kẽ nỗi trùng điệp của ba điệp từ “khi””khi gặp”, ”khi ngày”, ”khi đêm” đã nói lên sự thề ước sâu nặng, không thể nuốt lời, càng khẳng định tình trạnng bế tắc của quan niệm tình yêu của mình khác với quan niệm tình yêu của xã hội phong kiến đương thờiĐó là sự cảm nhận yêu thương từ trong trái tim chứ không phải sự bức ép, ràng chăng Nguyễn Du đã cho Kiều phá vỡ quan niệm lạc hậu, bất công đối với tình yêu đôi lứa để hướng tới tình yêu đích thực của con người? Mối tình Kim-Kiều đang mặn nồng thì cơn gia biến ấp này đây Kiều phải chọn một trong hai”Hiếu” hoặc “tình” chứ không thể “hai bề vẹn hai” ra, trong hoàn cảnh “Hiếu-tình chọn một” thì Kiều vẫn có thể chọn “tình”, tức là bỏ mặt gia đình trong sự tra khảo dã man mà bỏ trốn, trọn đời bên chàng Kiều đã chọn “hiếu”, Kiều đã hy sinh mối tình với chàng Kim và thậm chí là cả tấm thân trinh trắng của mình để cứu lấy gia đã nói ra cái lý của mình và hy vọng em ắt sẽ thấu hiểu tâm trạng bi kịch của “sự đâu” như một lời oán trách số phận, ngoại cảnh đã gây “sóng gió bất kỳ” làm tan vỡ mối tình đầu sâu nặng. Trở lại với cuộc trao duyên, sau khi kể rõ chuyện tình và nỗi đau của mình, Kiều chuyển sang phân tích ý nghĩa, gửi gắm em Vân Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ thay lời nước non Chị dù thịt nát xương mòn Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây “Ngày Xuân” mang tính ước lệ, có ý tuổi trẻ của người con trẻ của em con dài và vì “tình máu mủ” giữa em và chị mà “thay lời nước non” giúp kêu gọi tình chị em máu mủ ruột thịt thiêng liêng, gợi dậy ở Vân đức hy sinh và lòng vị tha vì người được thõa nguyện, thì dẫu Kiều chết đi, dưới chín suối cũng hả dạ, vì có được tiếng thơm là người có tình điều đặc biệt ở đây là Kiều xem như mình đã chết, như người xuân em hãy còn dài” còn có ý nghĩa là “ngày xuân của chị đã hết rồi”, chị chỉ còn “thịt nát xương mòn” và “ngậm cười chín suối”, nơi cõi Du đã khéo léo tinh tế để cho dự cảm từ từ len lõi vào lời nói của ngoài tưởng như Kiều đã sắp đặt hết mọi chuyện nhưng sâu thẳng trong lòng là nỗi đau đớn tưởng chừng như có thể chết được. Soạn bài Trao duyên – Trích Truyện Kiều – Ngữ văn 10 tập 2 Nói xong lời thỏa nguyện bình sinh và hàm ơn đối với em, Kiều liền trao kỷ vật kỷ niệm Chiếc vành với bức tờ mây Duyên này thì giữ vật này của chung. ”Tờ mây” là tờ hoa tiên có vẽ vân mây, là tờ hoa tiên mà trên đó Kiều đã ghi lời thề“Tiên thề cùng thảo một chương”.Kiều trao duyên cho Vân thì những những vật kỉ niệm“chiếc vành”, ”tờ mây” trước đây thuộc về mối tình Kiều – Kim thì bây giờ đã thuộc về Vân – nên, khi đã gửi gắm “lời nước non”, việc hiển nhiên Kiều phải làm là trao những vật thiêng liêng ấy lại cho câu tiếp theo thật kỳ lạ”Duyên này thì giữ vật này của chung”!”Duyên đây là nhân duyên, duyên phận, cơ duyên, tức là sự run rủi cho số phận hai người trai gái gặp nhau, kết đôi với nhau và lấy nhau.”Duyên này” là duyên mà Kiều đã trao cho Vân, trở thành duyên của Vân với chàng Kim, cho nên Kiều dặn Vân phải giữ tại sao vật kỷ niệm này là của chung?Ở đoạn trên, du thuyết phục em bằng lí, hay bằng tình hay bằng cả hai thì vẫn là ngôn ngữ của lí trí, giọng thơ đều đều, trầm đây thì lời thơ như nấc “gút” tâm trạng đầu đoạn trích đã được “mơ”û ra nhưng dường như giờ lại bị “thắt” lại thể hiện qua lời nói bất bình “thắt” này chính là nút thắt của nội tâm lẽ ấy là lời lẽ của nội tâm Kiều bất chợt thốt ra trước sự thật cay đắng và phũ phàngVật nàyChiếc vành, Tờ mây là của nàng, chàng Kim là của nàng, sao bây giờ lại là của Vân?Nội tâm rối bời, giằng xé ấy thể hiện Kiều còn muốn giữ lại cho mình, cho quá khứ chôn sâu trong trái tim Kiều, không muốn trao hoàn toàn cho em, thể hiện tâm trạng day dứt, vướng víu, níu kéo của Kiều đối với những kỷ niệm tình yêu của mình với chàng Kim hay nói khác hơn là Kiều “trao mà không trao”trao kỷ vật tình yêu cho em mà không tài nào dứt ra khỏi mối đó chứng tỏ”Kiều trao duyên chứ không trao tình”.Đó là một sự thật đau đớn lòng, khiến cho bao đoc giả phải cảm câu thơ trên là tình tiết chính của cuộc trao duyên nên mang nhiều ý nghĩa biểu tượng và trữ tình rất Du thật tinh tế và cũng thật nhân bản trong ý thơ của với hai câu thơ mà ông đã chuyển tải đến độc giả nhiều khía cạnh tâm trạng của Kiều hay mang tính khái quát hơn là của cả những người con gái đang yêu trong xã hội phong kiến đương thời và thậm chí ở xã hội hiện đại ngày nay”Khi đang yêu, ai lại muốn trao duyên bao giờ?” Từ nay, những kỷ vật Kiều trao lại cho em còn là vật làm tin nhắc nhở đến Kiều, để khi Vân có được hạnh phúc thì đừng quên Kiều Dù em nên vợ nên chồng Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên Mất người còn chút của tin Phím đàn với mảnh hương huyền ngày xưa Ý nghĩ của Kiều thật chua chát, tủi đọng lại ở câu”Dù em nên vợ nên chồng”.Trao duyên cho em rồi, cũng đã trao trả kỷ vật lại cho em, đã “cậy” em, ”lạy”em, biết bao nhiêu khẩn khoản, tin tưởng…ấy thế mà Kiều vẫn đặt một giả thiết, như có điều gì đó vẫn chưa ổn, chưa tự thấy mình đáng thương biết bao, mình là “người mệnh bạc” để cho người khácem Vân phải “xót”, phải thương hại!Cây đàn hồ đào ngày nào Kiều đàn cho chàng Kim nghe, và mảnh hương huyền ngày nào từng chướng kiến hai người thề nguyền cũng để lại cho em như là vật của với Kiều, chúng đã trở thành quá khứ xa xôi của “ngày xưa”.Trớ trêu thay, ”của tin” vẫn còn đó mà người thì lại “mất””Mất lòng còn chút của tin” – lời nói của Kiều đề cập đến cái chết mà vẫn mang âm điệu trầm trầm, vẻ như “chuyện tất yếu” – khiến cho nhiều độc giả nhạy cảm phải “nhói lòng”. Ý nghĩ về cái chết cứ trở đi trở lại, ám ảnh là khi trao kỷ vật tình yêu cho em, Kiều cảm thấy như mình đã chết, bởi khi mất đi tình yêu, cuộc sống đối với Kiều chẳng còn ý nghĩa gì như người mất hồn, vẫn ngồi đây, mà hồn thì bay xa xăm tận “mai sau” Mai sau dù có bao giờ Đốt lòng hương ấy so thơ phím này Trông ra ngọn cỏ lá cây Thấy hiu hiu gió thì hay chị về Kiều đã mất hết hiện lai của nàng trông chờ vào lòng sau khi em “đốt hương”, chơi đàn“so tơ” – những lúc hạnh phục thì hãy nhớ đến cách hình dung oan hồn bơ vơ của mình nơi mai sau thật là thê thảmKiều sau này chỉ là một ngọn gió vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ! Còn gì để thương cảm hơn là gợi lên những hình ảnh hư vô?Kiều bị ám ảnh bởi oan hồn của Đạm gặp chàng Kim tại nơi gần mộ Đạm Tiên, đi chơi xuân về cũng gặp mộ Đạm Tiên…Trước mộ của Đạm Tiên, nghe em Vương Quan kể về số phận đau thương của nàng, Kiều không cầm nổi nước mắt”Kiều đâu mối sẵn thương tâm-“Thoắt nghe, Kiều đã đầm đầm châu sa”.Nay số phận Kiều cũng éo le như như của Đạm nên, ”hồn” của Kiều cũng giống như hồn Đạm Tiên”ào ào đổ lộc rung cây” – có ý thức quay về cõi trần Hồn còn mang nặng lời thề Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai Thì ra, ”hồn” của Kiều vẫn chưa dứt nổi chàng của Kiều là “hồn mang nặng lời thề”.”Lời thề”ở đây chính là lời thề đêm thềnguyền vằng vặc ánh trăng mà Kiều không bao giờ quên được”Vầng trăng vằng vặc giữa trời-Đinh ninh hai miệng một lời song song”.”Lời thề” ấy của Kiều với chàng Kim đối với nàng cực kỳ quan đã”trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” với chàng thế, dù có tan tành thân xác “bồ liễu, dáng vẻ”trúc mai”, Kiều cũng quyết gặp lại trực tiếp chàng Kim để “đền nghì” cho chàng là một ý thức, một tấm lòng, một tư tưởng mà không phải người con gái nào cũng có thủy chung của Kiều vẫn được thể hiện rõ nét, đậm đà và càng sâu sắc hơn trong hoàn cảnh ngặt đối với Vân, khi “hồn Kiều quay trở về dương gian Dạ đài cách mặt khuất lời Rưới xin giọt nước cho người thác oan “Dạ đài” là nơi âm phủ tăm ấy, một người là con người cõi trầnThúy Vân, một kẻ là hồn ma âm phủThuý Kiều.em và chị sẽ “cách mặt khuất lời”, tức là sẽ không thấy được nhau và cũng không nghe được tiếng nói của đó, em hãy rảy chén nước cho “người thác oan” là chịTheo quan niệm tôn giáo cổ truyền thì nước tinh khiết có thể tẩy rửa nỗi oan khuất, làm cho oan hồn được mát mẻ siêu thoát.Qua đó chứng tỏ Kiều tuy tự nguyện hy sinh, bán mình chuộc cha, nhưng vẫn ý thực được mình bị oan uổng cho nên sau khi chết, hồn oan không tình cảnh ngặt nghèo như vậy, Kiều vẫn có ý thức nhận biết và đấu tranh đến cùng đối với sự bất công của xã hội phong kiến đương thời. ”Trâm gãy gương tan” là hình ảnh của tình duyên tan đã nhận của chàng Kim “muôn vàn ái ân” đến nỗi “kể làm sao xiết” mà giờ đây Kiều lại phản bội, thất hứa, làm “tơ duyên ngắn ngủi”, ”trân gãy gương tan”.Nghẹn ngào, cay đắng, xót xa – bấy nhiêu tâm trạng đối diện với trao duyên cho em Vân, nhờ em “thay lời nước non” với chàng Kim, Kiều vẫn thấy mình chịu muôn vàn tội lỗi nên nàng đã gửi lại “trăm nghìn cái lạy” cho “tình quân”-người đã cùng nàng trải qua bao kỷ niệm tình yêu nồng nàn, say đắm, đã cùng nàng thề nguyền trăm năm bên nhau mà cuối cùng lại bị nàng phản bội-mà vẫn cảm thấy chưa đây ít phút, nàng đã “lạy” em Vân của mình để cầu xin em nối duyên với hẳn với cái lạy “mang ơn”, cái “lạy” này là cái lạy tạ tội vô cùng thống tình cảnh này, Kiều vẫn không thể làm gì hơn ngoài sự tạ cái lạy đó đối với Kiều đã kết thức mối tình đầu ngắn ngủi, đầy tiếc duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi” Kiều thốt lên sao mà thấm đượm vị chua chát, cay đắng của sự chia ly lứa đây, Kiều mới thấm thía nỗi cô đơn và số phận của mình giữa cõi đời bất công Đoạn thơ “Trao Duyên” đúng là Kiều đã nói hết lời“cạn lời”.Lời trao duyên như nói một lời trăn trối, vĩnh lời trao duyên, tình yêu thật mặn nồng, say đắm, hạnh phúc, sau lời trao duyên mình đã trắng tay, đôi lứa chia ly, tình yêu tan khi trao duyên mình là người sống, sau khi trao duyên mình là hồn oan nơi chín tài năng tuyệt vời của mình, Nguyễn Du hình dung rất rõ và thể hiện rất thành công số phận bi kịch, nội tâm rối bời, tâm trạng đau khổ, dằng vặc, cay đắng, xót xa và tuyệt vọng trong cuộc trao duyên của Kiều với việc sử dụng một cách khéo léo, tinh tế, sắc sảo từ ngữ, nhiều biện pháp nghệ thuật thích hợp, kết hợp linh động lời kể với lời tự tình, lời độc thoại, ……, làm cho đoạn”trao duyên” trở thành đoạn thơ lâm li nhất trong Truyện đó cũng là lý do vì sao Truyện Kiều trở thành bất hủ! Trên đây là toàn bộ kiến thức mà Cunghocvui muốn chia sẻ về bài Trao duyên và đặc biệt là nghị luận văn học Trao duyên 18 câu đầu! 5 Bài văn mẫu phân tích Trao duyên đạt điểm 9, 10Phân tích 18 câu đầu bài Trao duyên được VnDoc sưu tầm và đăng tải xin gửi tới bạn đọc cùng tham khảo. Tài liệu gồm 6 bài văn mẫu nhằm giúp các bạn có thêm tài liệu tham khảo, chuẩn bị tốt cho bài giảng sắp tới của mình. Mời các bạn tải về tham khảo chi tiết bài viết dưới đây tích 8 câu cuối bài Trao duyênPhân tích 18 câu đầu Trao duyênHướng dẫn làm bài phân tích 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyênPhân tích Trao duyên 18 câu đầu - Bài văn mẫu 1Phân tích Trao duyên 18 câu đầu - Bài mẫu 2Phân tích Trao duyên 18 câu đầu - Bài mẫu 3Phân tích 18 câu đầu Trao duyên - Bài mẫu 4Phân tích 18 câu đầu Trao duyên - Bài mẫu 5Phân tích 18 câu đầu bài Trao duyên - Bài mẫu 6Để tiện trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về giảng dạy và học tập các môn học lớp 10, VnDoc mời các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và các bạn học sinh truy cập nhóm riêng dành cho lớp 10 sau Nhóm Tài liệu học tập lớp 10. Rất mong nhận được sự ủng hộ của các thầy cô và các dẫn làm bài phân tích 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên1. Phân tích đề- Yêu cầu đề bài Phân tích hành động, lời nói của Thúy Kiều thể hiện ở 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên, để thấy được lời Thúy Kiều nhờ cậy, van xin Thúy Vân thay mình kết duyên cùng Kim Trọng- Phương pháp làm bài sử dụng thao tác phân tích2. Các luận điểm chính cần triển khaiLuận điểm 1 Lời nhờ cậy của Thúy KiềuLuận điểm 2 Lí lẽ trao duyên của KiềuLuận điểm 3 Kiều trao kỷ vật cho Thúy Vân3. Lập dàn ýI. Mở bài- Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều và đoạn trích Trao Giới thiệu 18 câu thơ đầu của đoạn trích Là lời Thúy Kiều nhờ cậy, van xin Thúy Vân thay mình kết duyên cùng Kim TrọngII. Thân bài1. Lời nhờ cậy của Thúy Kiều 2 câu đầu- Lời nói+ “Cậy” Đồng nghĩa với “nhờ” nhưng “cậy” còn bao hàm ý nghĩa gửi gắm, mong đợi, tin tưởng về sự giúp đỡ đó.+ “Chịu lời” Đồng nghĩa với “nhận lời” nhưng “nhận lời” nó còn bao hàm sắc thái tự nguyện, có thể đồng ý hoặc không đồng ý, còn “chịu lời” thì bắt buộc phải chấp nhận, không thể từ chối bởi nó mang sắc thái nài nỉ, nài ép của người nhờ Hành động “Lạy, thưa”+ Là hành động của người bề dưới với người bề trên, nhưng ở đây Kiều là chị lại lạy, thưa em mình.+ Đây là hành động bất thường nhưng lại hoàn toàn bình thường trong hoàn cảnh này bởi hành động của Kiều là lạy đức hi sinh cao cả của Thúy Vân. Bởi vậy, việc Thúy Kiều nhún nhường, hạ mình van nài Thúy Vân là hoàn toàn hợp lí=> Hành động bất thường đặt trong mối quan hệ với các từ ngữ đặc biệt đã nhấn mạnh tình thế éo le của Thúy Hoàn cảnh đặc biệt của Kiều+ Thúy Kiều phải tha thiết cầu xin Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Kiều biết rằng việc mình đang nhờ Vân ảnh hưởng lớn đến cuộc đời em sau này bởi Thúy Vân và Kim Trọng không có tình yêu.+ Tâm trạng của Kiều đau khổ, tuyệt vọng bởi người ta có thể trao cho nhau kỉ niệm, đồ vật chứ không ai đi trao đi tình yêu của Lí lẽ trao duyên của Kiều 10 câu tiếpa. Kiều bộc bạch về tình cảnh của Thành ngữ “đứt gánh tương tư” chỉ tình cảnh tình duyên dang dở của Kiều, nàng bị đẩy vào bước đường cùng không lối thoát giữa một bên là chữ hiếu một bên là chữ tình nên trao duyên là lựa chọn duy nhất của Chữ “mặc” Là sự phó mặc, ủy thác, ủy nhiệm. Kiều đã giao toàn bộ trọng trách cho Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.=> Cho thấy tâm trạng đau đớn, xót xa của Kiều=> Là lời thuyết phục khôn khéo của Kiều dấy lên tình thương và trách nhiệm của người em đối với chị của Thúy Kiều kể về mối tình với chàng Kim- Hình ảnh “Quạt ước, chén thề” Gợi về những kỉ niệm đẹp, ấm êm, hạnh phúc của Kim và Kiều với những lời thề nguyền, đính ước gắn bó, thủy “Sóng gió bất kì” Tai họa bất ngờ ập đến, Kiều bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, phải chọn giữa tình và hiếu. Kiều đã chọn hi sinh chữ tình.=> Mối tình Kim – Kiều là mối tình đẹp nhưng mong manh, dễ vỡ=> Vừa bộc lộ tâm trạng đau đớn, xót xa của Kiều, vừa khiến Vân xúc động mà nhận Kiều nhắc đến tuổi trẻ và tình máu mủ và cái chết- Hình ảnh ẩn dụ “Ngày xuân’ Tuổi trẻ=> Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước- “Tình máu mủ” Tình cảm ruột thịt của những người cùng huyết thống=> Kiều thuyết phục em bằng tình cảm ruột Thành ngữ “Thịt nát xương mòn” và “ Ngậm cười chín suối” nói về cái chết đầy mãn nguyện của Kiều=> Kiều viện đến cả cái chết để thể hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận lời⇒ Lí lẽ của Kiều vừa thấu tình vừa đạt lí khiến Vân không thể không nhận lời⇒ Kiều là một người con gái thông minh, sắc sảo cũng đầy tình cảm, cảm Kiều trao kỉ vật 6 câu tiếp- Kỉ vật Chiếc vành, bức tờ mây→ Kỉ vật đơn sơ mà thiêng liêng, gợi quá khứ hạnh Từ “giữ - của chung - của tin”+ “Của chung” là của Kim, Kiều nay là cả của Vân nữa+ “Của tin” là những vật gắn bó gợi tình yêu thiêng liêng của Kim – Kiều mảnh hương, tiếng đàn→ Thể hiện sự giằng xé trong tâm trạng Thúy Kiều. Kiều chỉ có thể gửi gắm mối duyên dang dở cho Vân chứ không thể trao hết tình yêu mặn nồng xưa kia giữa nàng và Kim Nghệ thuật- Cách sử dụng từ ngữ tinh tế, tài tình- Sử dụng các thành ngữ dân gian và hình ảnh ẩn dụ- Sử dụng các thủ pháp nghệ thuật liệt kê, ẩn Giọng điệu nhẹ nhàng, da diết, giàu cảm Kết bàiKhẳng định giá trị của 18 câu thơ đầu đối với đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung4. Sơ đồ tư duy5. Kiến thức bổ sungNhận định về Truyện Kiều* Thúy Kiều có cái đức nghiêm của người phụ nữ mà lại có cái vẻ phong tình của khách phong lưu, đức hạnh đủ khiến kính, tài tình đủ khiến yêu, giá trị đủ khiến quý, thân thể đủ khiến thương, vì cảnh ngộ mà nặng kiếp đào hoa, trọng tình ý vẫn người tiết nghĩa, ở nơi ô nhục mà vẫn giữ được tiết hạnh thanh cao, gặp gian nan mà không hề đắm đuối, Kiều nương thật là gồm được bấy nhiêu tư cách nên ai cũng phải kính, phải thương, phải yêu, phải trọng.Phạm Quỳnh* Chế Lan Viên đã viết về thời đại Nguyễn Du sống "Cha ông ta từng đấm nát tay trước cánh cửa cuộc đời/Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa/Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời/Cả dân tộc đói nghèo trong rơm đại ấy được Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều Trăm năm trong cõi người ta/Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau/Trải qua một cuộc bể dâu/Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.* Thúy Kiều không còn là con người bình thường mà phải là một nhân cách, một thước đo, một nguyên lý sống để mọi giá trị thực hay giả của đời sống đối chiếu với nó hay soi mình vào đó sẽ bộc lộ tất cả những bản chất tuyệt vời, cao đẹp hay bỉ ổi, xấu xa không thể ngụy trang, che dấu được. Nguyễn Lộc.Phân tích Trao duyên 18 câu đầu - Bài văn mẫu 1Từ trước đến nay “trao duyên” thường mang sắc thái tình cảm; là dấu hiệu của niềm vui mừng; hạnh phúc của đôi lứa dành cho nhau ấy thế nhưng trong văn học xưa lại có cái “trao duyên” đầy đớn đau, bẽ bàng. Đó là cảnh trao duyên của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Bằng ngòi bút đặc tả, Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh thấm đẫm nước trích “Trao duyên” trải dài từ câu 723 - 756 của bài thơ kể về cuộc đời gian truân; kiếp đoạn trường; gia biến và lưu lạc của cô gái tài sắc Thúy Kiều. Qua phân tích 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao Duyên, ta thấy đoạn thơ như tiếng nấc lòng nghẹn ngào đầy u sầu của Thúy Kiều khi gửi lại tấm chân tình của mình nhờ em là Thúy Vân nối tiếp cùng Kim hàng vạn người trong cõi nhân gian, con người ta có cơ duyên may mắn mới tìm được đến với nhau, đồng điệu cùng nhau. Duyên phận là mối keo tơ giữa đôi nam nữ đã được ấn định rõ ràng, ràng buộc về quan hệ tình cảm chẳng thể dễ dàng chuyển giao. Bởi lẽ đó Thúy Kiều đã tỏ ra thận trọng, ngần ngại khi gửi gắm lại cho cô em gái Thúy Vân“Cậy em em có chịu lờiNgồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”Thúy Kiều là bậc bề trên thế nhưng khi mở lời muốn gửi gắm chuyện tình cảm cho cô em gái nàng lại dùng những từ ngữ có sức biểu đạt đầy trân trọng. “Cậy” thể hiện độ tin tưởng, trông mong nhất nhất rằng chỉ có Thúy Vân mới có thể giúp được mình; từ “chịu” xuất hiện cuối câu vừa mang ý nghĩa nghi vấn lại vừa thể hiện sự ràng buộc, bắt buộc. Cả câu thơ ngắt nghỉ nhấn nhá với những câu từ trang nghiêm đã thu hút sự chú ý của Thúy Vân về câu chuyện của chị. Khi em đã thấu hiểu nỗi lòng chị, Thúy Kiều lại tha thiết“Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”Thúy Kiều bảo rằng Thúy Vân hãy ngồi lên cho mình “lạy” rồi “thưa”. Ở đây dường như ta thấy có sự mâu thuẫn. Thúy Kiều là chị Thúy Vân, xét về vai vế Thúy Kiều ở đằng trên cớ sao lại phải hành lễ và kính cẩn với Thúy Vân. Điều đặc biệt trong ngụ ý của tác giả có lẽ phải chăng ở chính chỗ này. Đặt trong ngữ cảnh ấy hành động của nàng Kiều không hề phi lí mà hoàn toàn phù hợp. Bởi nàng chẳng còn sự lựa chọn nào khác là nhờ chính em gái ruột của mình, chịu ơn huệ lớn từ em đồng thời hành động ấy cũng lột tả sự khó xử, đầy éo le của cả chị và em Thúy Kiều. Thúy Kiều thì khó mở lời còn Thúy Vân lại chẳng thể khước từ trước lời nhờ cậy thiết tha của chị. Và Thúy Vân từ đây có lẽ rằng đã ngờ ngợ hiểu ra câu chuyện hệ trọng mà chị mình sắp đề cập đã được Thúy Vân thấu hiểu, Thúy kiều bắt đầu bày tỏ“Giữa đường đứt gánh tương tưKeo loan chắp mối tơ thừa mặc em”Thì ra câu chuyện Kiều nhờ cậy em là mong em sẽ thay mình nối duyên với Kim Trọng. Há sao nó lại là chuyện hệ trọng đến như thế. Bởi nó là chuyện tình cảm đời đời kiếp kiếp; là “gánh tương tư” - ám chỉ nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm trong tình yêu của Thúy Kiều đối với Kim Trọng nhưng giờ đây nàng lại chẳng thể thực hiện được mà phải nhờ đến em, cậy đến em, mong rằng em sẽ thay mình trả đủ nghĩa đủ tình cho chàng Kim. Và rằng Thúy Kiều buông câu “mặc” như vừa để em tùy lòng quyết định, chữ “mặc” ở đây lại vừa là sự phó mặc. Thúy Kiều đã đặt Thúy Vân vào sự lựa chọn không thể chối rằng trao đi nghĩa tình này cho em là làm khó em và trong lòng em cũng dấy lên nhiều đắn đo, suy nghĩ nên Thúy Kiều đã đưa ra những lý do để thuyết phục em“Kể từ khi gặp chàng Kim,Khi ngày quạt ước, khi đêm chén đâu sóng gió bất kỳ,Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?Ngày xuân em hãy còn dài,Xót tình máu mủ, thay lời nước non.”Thúy Kiều kể lại rằng giữa mình với Kim Trọng đã trót thề non hẹn biển. Thời xưa, lời thề nguyền đặc biệt là thề nguyền đôi lứa có giá trị vô cùng, sắt son, khắc sâu ân tình nghĩa đậm hai bên, mãi mãi chằng chia lìa. Lời thề giống như linh hồn, phẩm giá mỗi người. Ước thề là chất keo dính chặt hai con người. Thế nhưng vì hoàn cảnh éo le, vì gia đình có biến cố vì chữ hiếu mà Thúy Kiều lại đành hi sinh chữ tình, chẳng thể thực hiện tròn cái ước hẹn với chàng để bảo vệ cho cha mẹ, gia tộc. Nhưng Kiều không muốn bội tin, không muốn chàng vì mình đau khổ nên đành nhờ em gái mình tin tưởng thay mình nối tiếp hẹn ước chăm sóc cho chàng. Kiều khéo léo cậy lời“Ngày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước non”Thúy Kiều dường như hiểu sự băn khoăn, chơi vơi trong tình cảm em. Thúy Kiều biết rằng em đắn đo vì đó là hạnh phúc cả đời. Nàng vỗ về rằng Thúy Vân còn trẻ, ngày xuân còn dài thời gian còn nhiều, Kim Trọng lại là người đàn ông tốt, sau này còn có nhiều cơ hội để vun vén tình cảm, há chăng còn sợ chi “mối tơ thừa”. Thúy Vân hãy vì tình chị em ruột thịt thắm thiết, vì hi sinh báo hiếu của chị mà hãy chấp nhận lời nguyện xin này của Thúy Kiều. Trao duyên cho Thúy Vân, để Thúy Vân cùng Kim Trọng đi suốt quãng đường bình yên còn lại phải chăng Thúy Kiều cũng đã và đang làm tròn nốt bổn phận của người chị, tìm cho em một bến đỗ an toàn, hạnh phúc, một cuộc sống hôn nhân êm đềm tốt đẹp trước khi mình đi xa. Nỗi lòng người chị cả biết lo toan, thấu hiểu mọi cảm của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng như khắc sâu vào từng ngóc ngách trong tâm hồn nàng. Bởi thế trao mối tơ duyên này, trong lòng Kiều đầy dằng xé, đớn đau“Chị dù thịt nát xương mòn,Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”Trao người đàn ông mình yêu thương, trao tình cảm mặn nồng lại cho em chăm sóc, điều này như bòn rút hết sức lực, tâm hồn Thúy Kiều. Nàng giống như một cái xác không hồn; thấy sự sống của mình như vô nghĩa; như đã chấm dứt “thịt nát xương mòn"; “chín suối”. Ân tình dành cho Thúy Vân vẫn sáng tỏ; dù nơi chín suối Thúy Kiều vẫn mỉm cười, vẫn thấy an ủi và vui lòng khi em mình đã thay mình sống cho tròn cái nghĩa cái tình, không phụ sự kỳ vọng của chị. Tuy rằng Thúy Kiều cho em thấy sự an lòng nhưng có lẽ đằng sau đó là một tâm hồn đau khổ, bẽ bàng, đớn đau đến tột cùng của Thúy Kiều khi phải dứt bỏ mối nhân duyên tươi đẹp của Thúy Vân đã an lòng phần nào Thúy Kiều trao lại kỷ vật đính ước cho em và tha thiết dặn dò em“Chiếc thoa với bức tờ mâyDuyên này thì giữ, vật này của em nên vợ nên chồng,Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!Mất người còn chút của tin,Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”Đây có lẽ là thời khắc khó khăn nhất đối với Kiều. Bởi lẽ những kỉ vật là kỉ niệm gắn bó, lưu dấu, là minh chứng rõ nét cho tình cảm đậm sâu của Kiều và Trọng. Đó là chiếc vành, là chiếc vòng tay Trọng tặng cho Kiều cái lần đầu tiên ấy, làm vật tin ước hẹn; đó là bức tờ mây ghi tạc những lời thề non ước hẹn trăm năm đầu bạc của đôi nam thanh nữ tú và là phím đàn đêm trăng thanh cất lên khúc nhạc cho bản tình ca Kim Kiều;… Những kỉ vật như gợi lại mối tình ngọt ngào đầy hạnh phúc của Kim Trọng và Thúy Kiều. Càng hạnh phúc lại càng bẽ bàng xót xa. Nhịp thơ ngắt nghỉ như tiếng thở dài đầy bịn rịn xen chút tiếc nuối của Kiều khi đặt vào tay em những món kỉ vật vốn đã trở thành thói quen gắn bó với mình. Và rồi rằng cũng có mong muốn nhỏ nhoi dấy lên trong lòng Kiều, “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Duyên này kiều trao cho Vân nhưng xin Vân hãy cho những tín vật này là của chung của chúng ta, xin em hãy cho chị chút ích kỷ để được cùng Vân cùng Trọng sở hữu kỉ vật này. Mối tình dù có trao duyên đi nhưng cũng không thể dứt hẳn. Và chính Kiều cũng không thể phủ nhận được chính cảm xúc trái ngang này của bản thân, đầy quyến luyến và xót xa trăm lại quãng thời gian đã qua Kiều thương thay thân mình, cho rằng mình là người “mệnh bạc”, cái chết vẫn luôn thường trực đau đáu trong suy nghĩ của nàng “mất người”. Mỗi lời nói mỗi hành động của Kiều như chứa chan hàng vạn con dao ghim chặt vào tim nàng, nước mắt chảy lệ ướt mi. Lòng cô gái đôi mươi ấy như đang dấy lên ngàn cơn bão tố phong ba của sự xót xa, tủi hờn. Thúy Kiều đã hi sinh đi hạnh phúc cá nhân để làm tròn đạo hiếu, gánh gồng an yên gia đình, Thúy Kiều đã làm tròn cái đạo làm con và cả cái nghĩa với người tích 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên ta thấy Nguyễn Du xứng đáng là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ. Bằng ngòi bút khéo léo, tinh tế Nguyễn Du đã sai khiến đội quân ngôn ngữ của mình một cách điêu luyện, hòa hợp, để có thể bóc trần, lột tả chân thực cung bậc cảm xúc phức tạp đang ẩn giấu, giằng xé trong nỗi lòng mỗi nhân vật. Thúy Kiều trao duyên nhưng chẳng trao tình; tình cảm với Kim Trọng vẫn được nàng lưu giữ, trân trọng. Từ đây, Nguyễn Du đã đem đến cho độc giả cái nhìn đúng đắn đầy nhân văn cao đẹp về tình yêu Yêu là để người mình yêu hạnh phúc, yêu là trọn vẹn và thủy chung sắt son một lòng. Tình yêu chân thành là bất tử và trường ngỡ một con người tài sắc vẹn toàn, mười phân vẹn mười như Kiều sẽ được sống một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc thế nhưng lại trớ trêu thay, cuộc đời Kiều lại nổi trôi vô định đến xót lòng. Và phải chăng đó cũng là lời than thân chung cho số phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa? Và phải chăng mọi sóng gió mới chỉ là bắt đầu, trang sách giông tố cuộc đời nàng mới chỉ bắt đầu từ hôm tích Trao duyên 18 câu đầu - Bài mẫu 2Nguyễn Du tên chữ là Tố Như là đại thi hào của dân tộc Việt Nam và là danh nhân văn hóa thế giới. Ông sinh ra trong một gia đình phong kiến quý tộc và sống trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du thành công cả về chữ Hán lẫn chữ Nôm. Làm nên tên tuổi của Nguyễn Du phải kể đến tác phẩm “Truyện Kiều” - một tác phẩm chứa đựng tinh thần nhân đạo sâu sắc, đề cao giá trị con người và lên tiếng tố cáo xã hội phong kiến thối nát. Truyện Kiều kể về nàng Kiều – một người con gái tài sắc nhưng cuộc đời của nàng lại là một chuỗi những bi kịch triền miên chất chứa bao nỗi đau đớn, thảm sầu. “Trao duyên” là nỗi đau lớn và cũng chính là bi kịch đầu tiên trong cuộc đời lưu lạc 15 năm của nàng. Đoạn trích sau là những lời Kiều nói với Vân nhằm thuyết phục Vân thay mình gá nghĩa cho Kim Trọng.“... Cậy em em có chịu lời,...Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”Sau đêm thề nguyền, Kim Trọng phải về Liêu Dương để hộ tang chú. Gia đình Thúy Kiều bị thằng bán tơ vu oan giá họa. Bọn sai nha nhân cơ hội đó gây nên vụ án oan sai để ăn đút lót. Tài sản gia đình bị vơ vét hết, Thúy Kiều đành phải chấp nhận hi sinh mối tình với Kim Trọng, bán mình lấy tiền đút lót cho bọn sai nha để cứu cha và em khỏi những đòn tra khảo dã man. Việc bán mình thu xếp đã xong xuôi ''Tờ hoa đã kí, cân vàng mới trao'', đêm trước khi đi theo Mã Giám Sinh, Thúy Kiều đã ngồi trắng đêm nghĩ đến phận mình và tình yêu "Đèn thắp sáng đêm nước mắt đầm đìa/ Dầu chong trắng đĩa, lệ tràng thấm khăn", rồi nàng nhờ em gái mình là Thúy Vân thay mình kết duyên cùng Kim mở lời trao duyên rất đặc biệt 2 câu đầu. Trao duyên là một chuyện khó nói, cho dù là nói với em gái mình cũng vậy. Hơn nữa, đây không phải là tình yêu thoáng qua mà đã thề nguyền vàng đá, kết giải đồng tâm. Nó trở thành thiêng liêng, khó có thể đổi thay. Nay nhờ Vân thay mình kết nghĩa cùng Kim Trọng. Kiều sợ chắc gì Vân đã nhận lời. Kiều lâm vào tình thế khó xử hở môi ra cũng thẹn thùng/ để trong lòng thì phụ tấm lòng với ai. Bởi thế nên nàng đắn trước đo sau, băn khoăn mãi không biết phải nói thế nào để Vân không thể chối từ nên Kiều mở lời trao duyên rất đặc biệt "Cậy em em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa". Nguyễn Du là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ, điều đó có thể dễ dàng thấy được qua hai câu thơ trên. "Cậy" và "nhờ" đều có nghĩa là nhờ vả, xin sự giúp đỡ của một ai đó, nhưng thay vì sử dụng từ "nhờ", Nguyễn Du đã khéo léo chọn từ "cậy", bởi vì từ "cậy" này có nghĩa là nhờ với tất cả sự hi vọng và tin tưởng, nét nghĩa này từ "nhờ" không thể hiện được. Cũng như vậy, thay vì "nhận lời", tác giả lại dùng "chịu lời" bởi vì khác với "nhận lời", "chịu lời" không chỉ thể hiện sự đồng ý, nhận lời mà còn kèm theo ý bắt buộc, khiến cho người được nhờ vả khó nói lời từ chối. Cách tác giả dùng từ rất chính xác, bởi lẽ đây là chuyện rất quan trọng đối với Kiều, nàng hi vọng Thúy Vân đồng ý, nên lời van nài cũng có chút ép buộc. Tuy Kiều cũng hiểu việc nhờ Thúy Vân kết duyên với Kim Trọng là hết sức vô lí, nhưng nàng vẫn quyết tâm muốn trả nghĩa cho người yêu, bỏ qua lễ nghi gia phong, nàng "lạy" và "thưa" đối với em mình. Kiều dùng chính lễ nghi lạy trước thưa sau, thay bậc đổi ngôi này để ràng buộc Vân. Nàng là phận làm chị, nhưng lại bảo Vân "ngồi lên cho chị lạy". Giờ đây, nàng không còn là người chị của Vân nữa, nàng chỉ đơn thuần là một người đang nhờ cậy người khác, và Vân sẽ là người giúp nàng. Kiều đã xem Vân như một ân nhân – người có công cao, nghĩa nặng với nàng. Qua đó còn cho thấy vấn đề mà Kiều sắp nói đây phải vô cùng hệ trọng nên mới có sự thay đổi ngôi vị trong quan hệ chị em như vậy. Tất cả hành động và lời nói của Thúy Kiều đã tạo được không khí nghiêm trang thích hợp để trao duyên và thể hiện sự khéo léo của Thúy Kiều khi mở lời thuyết phục Vân đồng thời cho thấy khả năng dùng từ điêu luyện, tinh tế của Nguyễn DuTiếp đó, Kiều giao phó, ủy thác trách nhiệm cho em về duyên tình dang dở của mình"Giữa đường đứt gánh tương tư,Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em."“Gánh tương tư” là tình yêu sâu sắc của Kiều với Kim Trọng. “Giữa đường đứt gánh” là thành ngữ chỉ sự tan vỡ đột ngột của tình yêu. Tơ duyên là của chị, khi đến với em nó đã là “tơ thừa”, “thừa” nghĩa là bị đứt, vỡ - tơ duyên bị đứt đoạn. Cách nói này cho thấy với Kiều, Thúy Vân lấy Kim Trọng là một thiệt thòi cho Vân. Từ “mặc” sử dụng ở đây không phải là mặc kệ em, mặc cho ra sao thì ra mà có nghĩa là Kiều muốn phó thác, giao phó trách nhiệm lại cho Thúy Vân, tin tưởng tuyệt đối vào sự cậy nhờ của mình nơi Vân. Câu thơ thể hiện nỗi băn khoăn của Kiều là băn khoăn cho Kim Trọng phải lỡ làng nhân duyên và nỗi day dứt của Kiều là day dứt cho Thúy Vân phải “chắp mối tơ thừa” của duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa của mối tình đầu, kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về khiến nàng đau đớn khôn nguôi, nàng không dằn được lòng mình, nàng kể vắn tắt với em về tình cảnh của mình- "Kể từ khi gặp chàng Kim,Khi ngày quạt ước, khi đêm chén "Sự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai."Điệp từ "khi" nhấn mạnh tình cảm sâu nặng, bền chặt giữa Kiều với chàng Kim. Với nghệ thuật liệt kê "ngày quạt ước", "đêm chén thề” diễn tả những kỉ niệm tình yêu ngọt ngào, đẹp đẽ, trong sáng của Kiều cùng Kim Trọng, hai người đã tự do đính ước trao kỉ vật và uống chén rượu thề nguyền, hẹn ước nhưng giờ đây tất cả đã trở thành quá khứ. "Sóng gió bất kì" là khi Kim Trọng phải về quê chịu tang chú, gia đình Kiều lại bị mắc oan, cha và em Kiều bị bắt, cách duy nhất để cứu họ là nàng phải bán mình, đồng nghĩa với việc nàng phải làm trái với lời hẹn ước trước kia với người yêu. Chữ “hiếu” chính là gia đình còn chữ “tình” chính là tình yêu. Hoàn cảnh trái ngang quá, giữa hai lẽ "hiếu" và "tình", Kiều chỉ có thể chọn một. Nàng dằn vặt nội tâm, day dứt đau đớn, cuối cùng đành hi sinh tình yêu của mình để làm tròn chữ hiếu. Nàng tỏ nỗi lòng với Vân, dùng nỗi đau của mình để thuyết phục Vân, để đặt Vân vào tình thế cũng phải có hành động vì chị. Câu thơ “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai” là một câu hỏi tu từ chứa đầy nỗi đau xót của Kiều. Hiếu và tình là hai giá trị tinh thần không thể chọn lựa và đặt lên bàn cân nhưng xã hội phong kiến bất công tàn bạo lại bắt con người ta phải lựa chọn. Nàng Kiều đã phải cay đắng chọn chữ “hiếu” trong khi thực tế trái tim con người lại tồn tại “Đức tin, hi vọng và tình yêu vĩ đại hơn cả”. Qua đó người đọc càng thấm thía, thương cảm và xót tha cho Kiều khi nàng đã phải đau đớn hi sinh tình yêu đầu đẹp đẽ để “bán mình chuộc cha”.Đã tỏ bày nỗi lòng nhưng vẫn sợ Vân không đồng ý, Kiều dùng lí lẽ, viện nhiều lí do để thuyết phục em. Kiều dùng tình máu mủ, ruột thịt để ràng buộc em và bằng thái độ mãn nguyện của mình dẫu có chết đi"Ngày xuân em hãy còn dài,Xót tình máu mủ thay lời nước dù thịt nát xương mòn,Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."“Ngày xuân” là hình ảnh ẩn dụ chỉ tuổi đời cụ thể là tuổi trẻ. “Tình máu mủ” là tình cảm huyết thống, ruột rà. Đúng vậy Vân vẫn còn trẻ, có cả một cuộc đời phía trước để vun đắp cho hạnh phúc, hơn nữa chị và em là tình cảm ruột thịt “một giọt máu đào hơn ao nước lã" nên xin em hãy vì chị, vì tình chị em mà “thay lời nước non”. Thành ngữ “thịt nát xương mòn” diễn tả nỗi đau đớn, bất hạnh thậm chí là cái chết đớn đau. Em đồng ý nhận lời trao duyên, thì chị “ngậm cười chín suối” vẫn mãn nguyện và biết ơn em, “thơm lây” bởi việc nghĩa em làm cho chị. Qua đó cho thấy đối với Kiều việc Vân thay mình kết nghĩa cùng Kim Trọng là sự hi sinh, sự ban ơn cho Kiều là một nghĩa cử cao đẹp. Thật là rành rẽ những điều nàng kể và đề nghị. Đoạn thơ đã được Nguyễn Du viết ra một cách khúc chiết, mỗi dòng chứa một thông tin sự việc và chúng gối lên nhau một cách liên tục, lô gic. Ngôn ngữ của Kiều là ngôn ngữ của lí trí, rất khéo léo, thấu tình đạt lí không có một khe hở khiến Vân không thể từ chối mà còn lặng đi trong niềm xót thương chị vô bờ khi tìm cách thuyết phục và trao duyên cho em, khi thấy Vân đã cảm thông, Thúy Kiều từ từ trao lại những kỉ vật tình yêu“Chiếc vành với bức tờ mây,Duyên này thì giữ vật này của em nên vợ nên chồng,Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng người còn chút của tinPhím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.”Thúy Kiều từ từ trao lại những kỉ vật tình yêu "chiếc vành", ''bức tờ mây'' rồi đến ''phím đàn'', ''mảnh hương nguyền'' cho Thúy Vân. "Chiếc vành" là tặng vật đầu tiên của chàng Kim tặng cho Thúy Kiều khi nàng nhận lời, "Tờ mây" là tờ giấy có trang trí hình mây hoặc là thư từ qua lại giữa Kiều và Kim Trọng, đó là những kỉ vật đơn sơ mà thiêng liêng, vô giá, là của riêng Kiều và Kim Trọng gợi lên một tình yêu sâu nặng, thủy chung, nồng nàn và gợi nhớ về một quá khứ hạnh phúc, đẹp đẽ. Cho nên khi đã gửi gắm tất cả lại cho Thúy Vân tâm trạng mâu thuẫn thật sự trong lòng Kiều mới bùng lên mạnh mẽ. Kiều đã mất bao công sức để thuyết phục em nhưng chính lúc em chấp nhận cũng là lúc Kiều bắt đầu chơi vơi để cố níu tình yêu lại với mình. Trao kỉ vật là trao duyên. Duyên tình yêu của chị giờ là duyên và tình yêu của em “Duyên này thì giữ vật này của chung”. Bao đớn đau chất chứa trong hai từ “của chung”, hai từ này thể hiện sự níu kéo, giằng xé khủng khiếp trong nội tâm của Kiều. Lí trí quyết định trao duyên, trao kỉ vật nhưng tình yêu tha thiết, mãnh liệt, sâu sắc đối với Kim Trọng lại khiến nàng luyến tiếc và cố gắng níu giữ lại tình yêu ấy. Hai từ “của chung” cũng đã mở ra một bi kịch trong nội tâm của nàng Duyên đã trao mà tình không đoạn. Hai từ “ngày xưa” cũng đã thể hiện được tâm trạng vừa xót xa vừa tiếc nuối của Kiều bởi lẽ tình yêu đẹp đẽ chỉ vừa mới đây thôi nhưng khi trao cho Thúy Vân thì tất cả đã trở thành quá khứ xa xôi. Từ đây những kỉ vật Kiều trao lại cho em còn là vật làm tin để em nhớ đến Kiều, những lúc em hạnh phúc bên người yêu thì đừng bao giờ quên chị. Ý nghĩ của Kiều thật chua chát, tủi buồn. Nỗi đau như đọng lại ở câu thơ "dù em nên vợ nên chồng" trao duyên cho em rồi, cũng đã trao lại những kỉ vật cho em với những lời lẽ hết sức tin tưởng, khẩn khoản, ấy thế mà Kiều vẫn đặt ra giả thuyết như có điều gì đó vẫn chưa ổn, chưa yên. Qua cụm từ “xót người mệnh bạc” ta thấy Kiều tự thấy mình đáng thương, mình là người mệnh bạc để người khác phải xót xa thương hại. Những kỉ vật tình yêu thiêng liêng đối với Kiều giờ đã thành quá khứ xa xôi, trớ trêu thay của tin vẫn còn đó mà người lại mất "Mất người còn chút của tin", lời nói của Kiều đề cập đến cái chết mà vẫn mang âm điệu trầm trầm như là chuyện tất yếu, khiến cho người đọc cảm thấy đau lòng. Đó cũng là tài năng miêu tả tâm lí độc đáo của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Nhịp thơ 4/4 đứt đoạn như một tiếng nấc uất ức nghẹn ngào thể hiện nỗi đau giằng xé, sự mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm trong lòng đoạn trích trên, Nguyễn Du đã thành công trong việc miêu tả tâm lí của nàng Kiều, ông đã rất khéo léo khi để Kiều đè nén cảm xúc của mình và nói bằng ngôn ngữ của lí trí bởi lẽ trao duyên là việc hệ trọng Kiều phải dùng lí trí để phân tích thiệt hơn cho Vân hiểu mà nhận lời giúp nàng. Bên cạnh đó, đoạn trích cũng cho thấy cái “sâu sắc nước đời” của Nguyễn Du thể hiện ở việc lựa chọn từ ngữ để diễn tả tâm trạng của Kiều thay vì từ nhờ và chịu lời Nguyễn Du lại chọn từ cậy và chịu lời. Ngoài ra, ở đoạn trích trên Tố Như cũng đã kết hợp việc sử dụng ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ khoa học qua cách sử dụng đồng thời cả thành ngữ dân gian và cách nói ước lệ tượng trưng, điển cố điển thể thơ lục bát được sử dụng một cách nhuần nhuyễn, đầy sáng tạo kết hợp với cách sử dụng từ ngữ chuẩn xác, tinh tế cùng với tài năng miêu tả tâm lí của Nguyễn Du khi để nàng Kiều nói bằng ngôn ngữ của lí trí, chỉ với 14 câu Nguyễn Du đã diễn tả sâu sắc nỗi đau bi kịch của nàng Kiều trong tình yêu và những phẩm chất cao đẹp của Kiều không chỉ tài sắc, hiếu thảo, thủy chung trong tình yêu mà còn trọng tình trọng nghĩa, bao dung vị tha. Đồng thời, qua tác phẩm ta còn có thể thấy được sự yêu thương, cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du dành cho nhân vật của tích Trao duyên 18 câu đầu - Bài mẫu 3“Trao duyên” là một trong những bi kịch trong cuộc đời nàng Kiều. Phải tự tay mình dâng tặng tình yêu cho người khác là điều đau đớn vô cùng. Tại sao Kiều phải trao duyên? Kiều đã trao duyên như thế nào? Và tâm trạng của Kiều ra sao ? Tất cả được lý giải khi ta đi tìm hiểu đoạn trích Trao duyên trích từ câu 723 đến 756 thuật lại lời nàng Kiều thuyết phục Vân em gái thay mình trả nghĩa tình duyên với chàng Kim. Bài viết này xin đưa ra một cách hiểu với 18 câu thơ đầu đoạn Kiều đặt vấn đề cậy nhờ Vân thật khéo léoCậy em em có chịu lờiNgồi lên cho cho chị lạy rồi sẽ thưaKiều sử dụng từ “cậy” chứ không phải “nhờ’ vì từ “cậy” thể hiện được sự tin tưởng, gửi gắm, trông mong. Kiều sử dụng từ “chịu” chứ không phải “nhận” vì từ “chịu” thể hiện được tính chất công việc nhờ vả là rât hệ trọng, nặng nề. Hành động “lạy, thưa” của Kiều chị với Vân em khó thể có trong cuộc sống thường ngày vì trật tự xã hội phong kiến không cho phép. Nhưng trong hoàn cảnh này Kiều đã “lạy, thưa” với Vân. Kiều làm vậy để thể hiện sự biết ơn. Kiều luôn cho rằng nếu Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim đó là một sư hi sinh, chịu đựng. Đồng thời Kiều cũng khôn khéo hiểu rằng khi mình đã “lạy, thưa” đầy kính cẩn như vậy có nghĩa là đã dồn Vân vào thế buộc phải chấp những lời lẽ và hành động đặt vấn đề rất khéo léo như thế của Kiều, em Vân không thể làm gì khác ngoài việc lắng nghe chị tỏ bày nguồn ngọn. Trước tiên Kiều giãi bày hoàn cảnh trớ chêuGiữa đường đứt gánh tương tưKeo loan chắp mối tơ thừa mặc emKể từ khi gặp chàng KimKhi ngày quạt ước khi đêm chén thềGiờ đây chuyện tình yêu của Kiều thật éo le. Với các thành ngữ “đứt gánh tương tư”, “tơ thừa”, Kiều khẳng định rằng tình yêu của mình với chàng Kim đến đây là dang dở, là không thể tiếp tục, là cái “tơ thừa” mà thôi nhưng khó nối, giữa Kiều và Kim còn nhiều điều ràng buộc. Vì họ đã “ngày quạt ước”, “đêm chén thề”. Những lời ước hẹn, thề nguyền như sắt đá trọi trơ giữa bốn biển thời gian làm sao xóa đi trong chốc trăng vằng vặc giữa trờiĐinh ninh hai miệng một lời song không thể ở bên Kim, Kiều là kẻ phụ nghĩa, bạc tình. Bởi vậy Kiều trăm nỗi tơ vò, day dứt, khôn nguôi. Kiều chỉ cần nói vậy là đã đủ để Vân thấy những trớ chêu mà Kiều đang gặp phải, đủ để Vân hiểu vì sao chị phải cậy nhờ đến có được sự chấp thuận của Vân, Kiều tiếp tục đưa ra hàng loạt các lý doSự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn haiNgày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước nonChị dù thịt nát sương mònNgậm cười chín suối hãy còn thơm hết Kiều rất khéo léo khi nhắc tới “sóng gió bất kì”. Nó là tai họa bất ngờ ập xuống cướp đi sự yên ấm của gia đình Kiều. Nó khiến Kiều phải bán mình chuộc cha, cứu cả gia đình, khiến Kiều khó có thể vẹn toàn “hiếu tình”. Nói vậy không phải là Kiều kể công. Kiều chỉ “nói xa nói gần” để Vân hiểu chị đã hi sinh vì cả gia đình, vì em bởi thế Vân giúp chị hoàn thành một tâm nguyện cũng là việc nên do tiếp theo để Kiều cho rằng Vân có thể thay mình trả nghĩa là “Ngày xuân em hãy còn dài”. “Ngày xuân” ở đây có nên hiểu là tuổi xuân? Xét về tuổi tác hai chị em không hơn kém nhau là bao. Có lẽ Kiều cho rằng việc bán mình cũng có nghĩa là kết thúc tuổi xuân, chấm dứt của cuộc đời, cũng có nghĩa là Kiều mất tự do không còn cơ hội đáp nghĩa chàng Kim. Vậy từ “xuân” đối với Kiều mang một ý nghĩa rất rộng. Nó là tuổi trẻ, là cuộc đời tươi sáng, là cuộc sống tự do. Với Kiều những điều đó thật ngắn ngủi và sắp phải kết lí do không kém thuyết phục nữa đó là “tình máu mủ” chị em. Kiều kêu gọi, van xin sự thương xót từ Vân. Kiều nói với VânChị dù thịt nát xương mònNgậm cười chín suối hãy còn thơm lâyKiều viện ra cả cái chết để buộc Vân nhận lời lẽ nào Vân có thể từ chối. Để ý trong đoạn trích thì thấy rằng Kiều hay nhắc đến cái chết “thịt nát xương mòn, chín suối”. Đó là những dự cảm chẳng lành hiện lên trong lời nói của Kiều. Hay bởi vì Kiều thấy tương lai quá đen tối, cảm nhận sự mất mát trong tình yêu quá lớn khiến Kiều luôn nghĩ về cái chết? Việc “trao duyên” còn một bước cuối cùng để hoàn tất. Đó là trao kỉ vật. Kỉ vật tình yêu ở đây có “chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền”. Có lẽ chính Kiều cũng không thể tưởng tượng được nỗi đau đớn mất mát, hẫng hụt, choáng váng khi phải tự tay trao đi những kỉ vật tình yêu lớn đến như nào. Phải đứng trong giây phút ấy Kiều mới thấm thía. Lúc này trong Kiều là một sự mẫu thuẫn ngộn lên làm Kiều bấn loạn khiến Kiều không còn tỉnh nói “duyên này thì giữ”. Duyên này là duyên nào? Có lẽ nên hiểu đó cái duyên gặp gỡ hội ngộ của Kiều và Kim, là những kí ức tình yêu đậm sâu tha thiết giữa hai người. Kiều muốn giữ những kỉ niệm tình yêu ấy mãi là của riêng mình. “Vật này của chung” nghĩa là Kiều muốn những kỉ vật kia giờ là của chung giữa Vân - Kim - Kiều vì Kiều không muốn mất tất cả mất người còn chút của tin. Hơn thế Kiều còn nói rằngDù em nên vợ nên chồngXót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quênHai chữ “dù em” nói ra thật lấp lửng khó hiểu. Hình như trong giây phút ấy Kiều thấy có gì đó chưa ổn, chưa phải, Kiều không biết việc trao duyên cho em là đúng hay sai. Kiều vẫn nghĩ rằng có thể việc chẳng thành. Và Kiều còn nghĩ Kim Trọng sẽ chẳng quên mình ắt lòng chẳng quên. Đó là cái mong muốn ích kỉ của trái tim người phụ nữ khi yêu len lỏi trong câu từ. Đó là sự ích kỉ làm cho trái tim Kiều trở nên vĩ đọc kĩ đoạn trích ta lại càng thấy trong lòng trống trải, muộn phiền. Những ai oán sầu khổ của Kiều như vương vấn ám ảnh vào tâm hồn người đọc. Kiều đã dùng hết lí trí để thuyết phục Vân nhưng ta hiểu trái tim Kiều rung lên từng đợt đau khổ. Kiều vô cùng mâu thuẫn giữa trao đi và giữ lại. Đến đoạn sau ta có cảm giác như Kiều đổ sụp khi phải đối diện với sự trống rỗng hẫng hụt nơi tâm hồn. Có lẽ Kiều không thể chấp nhận sự thật ấy.“Cạn lời hồn ngất máu say;Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng”.Truyện KiềuQua việc phân tích 18 câu thơ đầu đoạn trích “Trao duyên” ta hiểu sâu sắc bi kịch tình yêu của Kiều. Đọc những dòng này ta càng thêm khâm phục sự tài tình trong ngòi bút Nguyễn Du. Mỗi dòng, mỗi chữ đều đượm máu và nước thương cho những kiếp ngườiKhóc thương cho những cuộc đời bấp bênhKhóc thương phận số lênh đênhKhóc thương cho một chữ tình chia đôiNgười đi khuất bóng xa rồiThơ người chứa trọn tình đời mênh tích 18 câu đầu Trao duyên - Bài mẫu 4Kiều là một cô gái xinh đẹp mặn mà sắc sảo thế nhưng chính cái xã hội đen tối phong kiến kia đã làm cho Kiều có cuộc đời gian truân sóng gió. Có thể nói nhà thơ Nguyễn Du thông cảm sâu sắc với số phận ấy lắm thì mới có thể kể chi tiết về cuộc đời của người con gái xinh đẹp tài năng ấy được. Trước khi Kiều trở thành món hàng của phường buôn thịt bán người. Kiều đã nhớ đến người yêu của mình là Kim Trọng và nhờ Thúy Vân đền đáp nghĩa tình với chàng Kim thay mình. Đoạn trích Trao duyên đã thể hiện tâm trạng của Kiều khi quyết định trao duyên cho là một thứ trời xe, trời định, những người yêu nhau ắt hẳn được xe duyên. Thế mà ở đây Kiều tự thay trời trao duyên của bản thân mình cho em thì có thể được không? Mà duyên thì là yêu nhau mới có huống chi Thúy Vân cùng chàng Kim có yêu nhau đâu. Mặt khác trong sâu thẳm trái tim của Kiều thì việc trao duyên kia không hề dễ, phải trao đi người mà mình yêu thương thì làm sao có thể vui được. Tuy nhiên thì ở đây Kiều vẫn phải tước quyền của ông tơ bà nguyệt, bỏ qua những cảm xúc của bản thân mình để quyết định trao duyên cho hết là mười bốn câu thơ đầu nói lên việc Thúy Kiều quyết định trao duyên cho em mình là Thúy nhất là Kiều nói với em về nỗi bất hạnh của mình. Nỗi bất hạnh ấy chỉ có Thúy Vân mới thay thế được Kiều cũng chỉ có Thúy Vân mới giúp Kiều an tâm về chuyện chàng Kim được“Cậy em em có chịu lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”Tác giả dùng từ thật hay khi nói đến việc trao duyên của nàng Kiều cho Thúy Vân. Là một người chị đáng ra chẳng bao giờ phải cậy nhờ hay vái lạy em mình cả thế nhưng ở đây Kiều trao duyên hay chính là đang nhờ Thúy Vân thay mình đền đáp tấm chân tình với Kim Trọng. Những từ “cậy”, “ngồi lên”, “lạy”, “thưa”. Đó chính là thái độ của người dưới dành cho người trên nhưng ở đây thì lại là chị dành cho em. Dùng ngôn ngữ như thế tác giả có ý muốn nói đến sự cậy nhờ em của Thúy Kiều. Nàng thành khẩn giống như cầu xin em mình để đền đáp tình cảm cho chàng sự cậy nhờ ấy để thêm phần thuyết phục Vân đồng ý thì Kiều đã tâm sự với em về những nỗi tơ vương sầu muộn đang bủa giăng trong lòng nàng. Và chỉ có Thúy Vân mới có thể giúp đỡ Kiều chứ không có ai khác cả“Giữa đường đứt gánh tương tưKeo loan chắp mối tơ thừa mặc emKể từ khi gặp chàng KimKhi ngày quạt ước khi đêm chén thềSự đâu sóng gió bất kì,Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai. ”Nàng ngậm ngùi mà rằng nàng đã chót thề nguyền cùng người con trai tên Kim Trọng ấy mà giờ đây tình yêu vừa mới chớm đến lại đứt gánh tương tư giữa đường. Còn tại sao đứt gánh thì có lẽ Vân cũng hiểu. Chính vì thế mà Kiều mong Vân chấp nhận sự cậy nhờ của mình mà chắp mối tơ loan với chàng Kim Trọng. Sự ngậm ngùi ấy được phát ra từ những câu thơ trên. Có thể nói để cất lên những tiếng cậy nhờ kia thì quả thật Kiều cũng đau đớn lắm. Dù cho là chị em nữa nhưng phải gượng ép trao đi thứ mình không muốn trao và thứ mà người ta không muốn nhận thì chẳng khác nào mất đi một thứ quý báu. Vân ngây thơ phúc hậu cũng chỉ biết là Thúy Kiều cậy nhờ mình chứ nào đâu hiểu hết được “ Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”.Tiếp đến Kiều thể hiện hoàn cảnh của bản thân mình và cuộc sống của Vân để làm cho lời cậy nhờ kia nặng hơn khiến cho Thúy Vân có muốn từ chối cũng không thể nào từ chối được“Ngày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước nonChị dù thịt nát xương mònNgậm cười chín suối hãy còn thơm lây!”Khi cậy nhờ em xong thi Kiều lại quay về cảm giác một mình và cái sự một mình ấy đã khiến cho nàng nghĩ đến những truyện trước đây, tâm trạng của nàng bắt đầu được bộc lộ rõ ràng nhất là Kiều mong muốn trong tuyệt vọng quay về với người yêu của mình“Chiếc vành với bức tờ mâyDuyên này thì giữ vật này của chungDù em nên vợ nên chồngXót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quênMất người còn chút của tinPhím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”Chiếc vành với tờ mây kia chính là những kỉ vật tình yêu của hai người. họ đã cùng nhau thề nguyền sống chết, họ đã có với nhau những ngày tháng hạnh phúc những niềm vui tràn ngập vậy mà giờ đây cái xã hội kia đã buộc Kiều chọn chữ hiếu mà hi sinh chữ tình. Thôi thì nàng quyết định giữ cái duyên còn vật kia thì thành của chung. Mai này khi Vân và Kim Trọng có nên duyên vợ chồng thì cũng mong hãy nhớ đến kiều. Rồi là phím đàn với mảnh hương thề nguyền ngày nào cũng là những kỉ vật tình yêu của Kiều và kim Trọng. Thế nhưng Nguyễn Du không để những kỉ vật ấy cùng một câu thơ. Có lẽ làm như thế để cho chúng ta thấy được cảm xúc đau buồn của nàng Kiều khi phải trao lại những kỉ vật ấy một cách đầy luyến tiếc cho em gái mình. Nàng như cố níu giữ lấy những kỉ vật tình yêu thế nhưng nàng cũng buộc mình phải đưa cho Vân những kỉ vật ấy nếu không thì sẽ không thể nào mà đền đáp tấm ân tình của chàng Kim trọng được. Có thể nói qua những câu thơ trên tâm trang của thúy Kiều được hiện thật sự rất rõ nét. Đó chính là tâm trạng mong muốn trở lại những ngày tháng trước đây. Đồng thời luyến tiếc với những kỉ vật tình yêu tưởng Thúy Kiều trao duyên xong sẽ cảm thấy thanh thản phần nào những trái lại dây phút kết thúc sự trao duyên ấy lại là dây phút Kiều đau nhất có lẽ trong sâu thẳm trái tim Kiều một khi đã trao duyên thì tức không phải của mình nữa. Tình yêu bấy lâu nay bỗng chốc không phải là của mình nữa. Kiều đau như chết đi lặng trong sự đau đớn đang dày xé con tim mình“Mai sau dù có bao giờĐốt lò hương ấy so tơ phím nàyTrông ra ngọn cỏ lá câyThấy hiu hiu gió thì hay chị vềHồn còn mang nặng lời thềNát thân bồ liễu đền nghì trúc maiDạ đài cách mặt khuất lờiRảy xin chén nước cho người thác oan”Kiều nghĩ đến cái chết và Kiều ngẫm rằng kể cả khi nàng chết đi thì những lời thề kia cũng không thể nào quên được. Và sự bất công của xã hội và sự mất đi tình yêu của Kiều sẽ khiến cho nàng cảm thấy thật sự đau oan khuất mà cứ vấn vương trên cõi trần không thể siêu thoát. Mai sau khi Vân Trọng nên duyên thì cũng đừng quên kiều. Nếu thấy hiu hiu gió thì có thể cảm nhận là nàng đang về. Nàng mượn cơn gió kia để đưa hồn mình về thăm Vân Trọng. lời thề với chàng Kim thì dẫu cho Kiều có nát thân liễu yếu thì cũng không thể nào đền đáp được cho chàng Kim. Khi ấy chỉ mong kim và Vân hãy rót một chén rượu cho người thác oan là Thúy Kiều. Có thể nói cuộc sống của con người ai mà chẳng sợ chết người ta nghĩ đến cái chết chỉ khi trong họ thật sự cảm thấy rất đau khổ không thể nào có thể chịu đựng được nữa thì họ mới dám nghĩ đến. Kiều ý thức được nỗi đau trong mình, nàng như biết trước con dường mà nàng sắp đi khổ cực và gian truân đến mức nào. Cũng có thể chết bất cứ lúc vậy qua bài thơ ta thấy được tâm trạng của Thúy Kiều khi trao duyên cho em gái mình. Cái xã hội phong kiến kia đã khiến cho chữ tình chữ hiếu bị đặt lên bàn cân và buộc người con gái hiếu thảo kia phải lựa chọn. Mà vốn dĩ chữ hiếu và chữ tình không thể nào đem ra cân được. Chữ hiếu làm tròn thì chữ tình kia lại đành thất hẹn, làm trái lời thề. Chính bởi lẽ ấy mà Kiều cảm thấy rất đau đớn thậm chí cô đã nghĩ đến cái tích 18 câu đầu Trao duyên - Bài mẫu 5Người phụ nữ trong xã hội xưa phải chịu lắm gian truân và đau khổ. Truyện Kiều là một trong những tác phẩm kinh điển của nền văn học Trung đại Việt Nam gột tả trọn vẹn được điều đó. Đoạn trích Trao Duyên nằm ở phần đầu của Truyện Kiều. 18 câu thơ đầu của đoạn trích như tiếng nấc lòng nghẹn ngào đầy u sầu của Thúy Kiều khi gửi lại tấm chân tình của mình nhờ em là Thúy Vân nối tiếp cùng Kim Trọng. Đoạn trích là tiếng lòng đầy đau đớn của phận là mối tơ vương giữa hai người đã được ràng buộc về tình cảm chẳng thể dễ dàng chuyển giao hay nhường lại cho bất cứ một ai. Bởi lẽ đó Thúy Kiều đã tỏ ra thận trọng, ngần ngại khi nàng muốn Thúy Vân gá nghĩa cùng chàng KimCậy em em có chịu lờiNgồi lên cho chị lạy rồi hãy thưaThúy Kiều tuy là chị, xét về vai vế cao hơn Thúy Vân nhưng để nhờ cậy em một điều tương đối tế nhị, nàng lại dùng những từ ngữ có sức biểu đạt đầy trân trọng. Từ “cậy” thể hiện thái độ tin tưởng, trông mong, đồng thời thể hiện sự quan trọng của Thúy Vân, rằng chỉ có Thúy Vân mới có thể giúp được mình; từ “chịu lời” được sử dụng giúp cho cả câu vừa là câu hỏi, là lời van lơn nhưng cũng đồng thời là sự bắt buộc, ràng buộc Thúy Kiều bảo Thúy Vân hãy ngồi lên cho mình “lạy” rồi “thưa”. Đặt trong ngữ cảnh lúc bấy giờ hành động của nàng Kiều không hề khó hiểu và vô lý, mà ngược lại, nó hoàn toàn phù hợp. Bởi Kiều chẳng còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc nhờ chính em gái ruột của mình để trọn vẹn tình ngãi với Kim Trọng. Đồng thời, hành động ấy của Thúy Kiều cũng lột tả sự khó xử, đầy éo le của cả hai chị em nàng. Thúy Kiều thì khó mở lời phó thác hạnh phúc của em cùng chuyện tình cảm của bản thân, còn Thúy Vân lại khó có thể lên tiếng khước từ trước lời nhờ cậy thiết tha của chị. Và Thúy Vân từ đây có lẽ rằng đã ngờ ngợ hiểu ra điều quan trọng, khó xử mà chị sắp nói Thúy Vân đã thấu hiểu phần nào, Thúy kiều bắt đầu bày tỏGiữa đường đứt gánh tương tưKeo loan chắp mối tơ thừa mặc emHóa ra Kiều mong Vân có thể thay mình gá nghĩa cùng chàng Kim, cùng Kim Trọng viết tiếp câu chuyện tình dở dang của mình. Chuyện ấy sao Kiều phải làm như hệ trọng đến vậy? Có lẽ bởi Kiều xuất thân từ một gia đình gia giáo trong xã hội xưa và đó cũng là chuyện cả đời người nên nàng không thể đơn sai, qua loa được. Đó là “gánh tương tư, là nghĩa vụ, là bổn phận, là trách nhiệm trong tình yêu của Thúy Kiều đối với Kim “mặc” được Kiều dùng như thể vừa để em tùy lòng quyết định, vừa là sự phó mặc, buông xuôi của Kiều. Thúy Kiều đã đặt Thúy Vân vào sự đã rồi, vào sự lựa chọn không thể từ chối. Biết rằng trao đi phần duyên tình này cho Vân là làm khó em, là làm đau mình và trong lòng Thúy Vân chắc hẳn cũng sẽ dấy lên nhiều đắn đo, suy nghĩ nhưng Kiều không thể làm khác. Thúy Kiều đã rất khéo léo trong việc lựa lời thuyết phục VânKể từ khi gặp chàng Kim,Khi ngày quạt ước, khi đêm chén đâu sóng gió bất kỳ,Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?Ngày xuân em hãy còn dài,Xót tình máu mủ, thay lời nước Kiều kể lại với Vân giữa mình với Kim Trọng đã trót có lời thề non hẹn biển. Trong xã hội xưa, lời thề có giá trị khá đặc biệt, chúng có giá trị vô cùng, sắt son, khắc sâu ân tình nghĩa đậm hai bên, mãi mãi chẳng chia lìa. Lời thề là linh hồn, là phẩm giá mỗi người. chính vì thế mà bất cứ ai cũng không thể phản bội lại lời thề của chính nhưng vì hoàn cảnh éo le, vì gia biến, vì thằng bán tơ vu oan, vì chữ hiếu mà Thúy Kiều phải đành hi sinh chữ tình, chẳng thể thực hiện tròn cái ước hẹn với Kim Trọng. Nhưng dù vậy, Kiều không muốn bội tin, không muốn Kim Trọng vì mình đau khổ nên đành nhờ Thúy Vân thay mình nối tiếp lời ước hẹn hôm nào. Kiều khéo léo cậy lờiNgày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước nonThúy Kiều rất tinh tế và khéo léo, nàng dường như hiểu rõ được sự băn khoăn, chơi vơi trong tình cảm của Thúy Vân. Thúy Kiều hiểu rằng Thúy Vân sẽ đắn đo vì đó là hạnh phúc cả đời người con gái, không thể dễ dàng quyết định. Chính vì vậy, Kiều vỗ về rằng Thúy Vân còn trẻ, ngày xuân còn dài, thời gian còn nhiều, sau này tất còn có nhiều cơ hội để vun vén tình cảm, sợ chi “mối tơ thừa”. Mong Vân hãy vì tình chị em, vì Kiều đã hi sinh báo hiếu, vì nỗi đau của chị mà hãy chấp nhận lời nhờ cậy của tích 18 câu đầu bài trao duyên ta thấy tình cảm của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng rất sâu nặng, nó như khắc sâu vào từng ngóc ngách trong tâm hồn nàng. Bởi thế trao đi mối tơ duyên này, trong lòng Kiều cũng đầy dằng xé và đớn đauChị dù thịt nát xương mòn,Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lâyTrao người mình hết mực yêu thương, trao đi tình cảm mặn nồng cho Thúy Vân dường như đã rút hết sức lực, tâm hồn Thúy Kiều. Thúy Kiều như cái xác không hồn, nàng thấy sự sống của mình như vô nghĩa, như đã chấm dứt. Ở đây, tác giả dùng nhiều từ như “thịt nát xương mòn’; “ chín suối”... nhằm gột tả được tận cùng nỗi đau của Kiều. Chỉ cần Vân nhận lời gá nghĩa, đắp xây hạnh phúc cùng Kim Trọng thì dù nơi chín suối Thúy Kiều vẫn mỉm cười, vẫn thấy an ủi và vui lòng khi em mình đã thay mình sống cho tròn cái nghĩa cái tình. Đó chắc hẳn là một tâm trạng đầy đau khổ, bẽ bàng, đớn đau đến tột cùng của Thúy Kiều khi phải dứt bỏ mối duyên tươi đẹp mới đắp xây của Thúy Vân đã phần nào thấu hiểu và chấp nhận, Thúy Kiều trao lại kỷ vật đính ước cho em và dặn dòChiếc thoa với bức tờ mâyDuyên này thì giữ, vật này của em nên vợ nên chồng,Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên!Mất người còn chút của tin,Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày lẽ đây là thời khắc khó khăn nhất với Kiều. Bởi lẽ đó là những vật gắn liền với những kỉ niệm gắn bó của Kiều và Kim Trọng, là minh chứng rõ ràng nhất cho tình cảm Kim – Kiều. Đó là chiếc vòng tay Trọng tặng cho Kiều trong lần đầu tiên gặp gỡ, là tờ mây với những lời thề ước hẹn trăm năm, là phím đàn đêm trăng thanh cất lên khúc nhạc cho bản tình ca Kim Kiều,…Những kỉ vật như gợi lại mối tình hạnh phúc ngắn ngủi của Kim Trọng và Thúy Kiều. Càng hạnh phúc lại càng bẽ bàng xót xa. Nhịp thơ ngắt nghỉ như tiếng thở dài đầy bịn rịn xen chút tiếc nuối của Kiều khi đặt vào tay em những món kỉ vật vốn đã trở thành thói quen gắn bó với mình. Và rồi rằng cũng có mong muốn nhỏ nhoi dấy lên trong lòng Kiều, “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Duyên này kiều trao cho Vân nhưng xin Vân hãy cho những tín vật này là của chung của chúng ta, xin em hãy cho chị chút ích kỷ để được cùng Vân cùng Trọng sở hữu kỉ vật tình dù có trao duyên đi nhưng Kiều cũng không thể không yêu thương Kim Trọng, không thể hoàn toàn buông đoạn tình cảm đã từng rất đẹp. Và Kiều cũng không thể phủ nhận cảm xúc trái ngang đầy mâu thuẫn này đầy quyến luyết và xót xa trăm bề. Ngẫm lại quãng thời gian đã qua Kiều thương thay thân mình, cho rằng mình là người “mệnh bạc”, cái chết vẫn luôn thường trực đau đáu trong suy nghĩThúy Kiều đã hi sinh đi hạnh phúc cá nhân để làm tròn đạo hiếu, gánh gồng an yên gia đình, Thúy Kiều đã làm tròn cái đạo làm con và cả cái nghĩa với người thương. Với 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên ta thấy Nguyễn Du xứng đáng là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ. Bằng ngòi bút khéo léo, tinh tế Nguyễn Du đã sai khiến đội quân ngôn ngữ của mình một cách điêu luyện, hòa hợp, để có thể bóc trần, lột tả chân thực cung bậc cảm xúc phức tạp đang ẩn dấu, giằng xé trong nỗi lòng mỗi nhân vật. Thúy Kiều trao duyên nhưng chẳng trao tình; tình cảm với Kim Trọng vẫn được nàng lưu giữ, trân tích 18 câu đầu bài trao duyên ta có thể thấy Nguyễn Du đã đem đến cho độc giả cái nhìn đúng đắn đầy nhân văn cao đẹp về tình yêu Yêu là để người mình yêu hạnh phúc, yêu là trọn vẹn và thủy chung sắt son một lòng. Tình yêu chân thành là bất tử và trường tồn. Cứ ngỡ một con người tài sắc vẹn toàn, mười phân vẹn mười như Kiều sẽ được sống một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc thế nhưng lại trớ trêu thay, cuộc đời Kiều lại nổi trôi vô định đến xót lòng. Và phải chăng đó cũng là lời than thân chung cho số phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa? Và phải chăng mọi sóng gió mới chỉ là bắt đầu, trang sách giông tố cuộc đời nàng mới chỉ bắt đầu từ hôm tích 18 câu đầu bài Trao duyên - Bài mẫu 6Nguyễn Du tên tự là Tố Như, ông là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Nguyễn Du được xem là "đại thi hào dân tộc" với nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển của văn học Việt Nam cuối TK XIX, đầu TK XX, một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông có thể kể đến là Truyện Kiều. Tác phẩm viết về cuộc đời sóng gió của người con gái tài sắc nhưng bạc mệnh Thúy Kiều. Kiều cô gái hội tụ đủ tài sắc nhưng có số phận truân chuyên, chịu nhiều bi kịch đau đớn. Một trong những bi kịch thương đau nhất mà Kiều phải trải qua đó là bi kịch tình yêu. Đoạn trích Trao duyên đã tái hiện rõ nét nhất bị kịch đó của nàng. 18 câu đầu đoạn trích là cảnh Kiều trao duyên cho em cùng những nỗi niềm khôn thấu của tình Kim- Kiều chớm nở chưa lâu thì gia đình Thúy Kiều gặp cơn nguy biến. Là chị lớn trong gia đình, nàng nào có thể làm ngơ. Trước cơn gia biến, Thúy Kiều đã quyết định bán mình để có tiền cứu cha và em. Chọn chữ hiếu để báo đáp cha mẹ cũng có nghĩa nàng đành buông bỏ tình riêng với Kim Trọng. Để hiếu-tình được vẹn tròn, Kiều đã nàng ngậm ngùi ngỏ lời cậy nhờ Thúy Vân với mong muốn thay mình nối tiếp tình duyên dang dở với chàng KimCậy em em có chịu lờiNgồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưaHai câu thơ mở đầu là lời nhờ cậy tha thiết của Thúy Kiều với Thúy Vân. Kiều chắc hẳn cũng đã suy nghĩ rất nhiều trước khi ngỏ lời với em. Hai tiếng "cậy em" đặt đầu câu đã không chỉ thể hiện sự mong muốn chân thành của Thúy Kiều mà còn làm cho lời nhờ cậy có thêm "sức nặng", đặt Thúy Vân vào tình thế khó có thể chối từ. Cụm từ vừa mang sắc thái nghi vấn vừa mang sắc thái cầu khiến "em có chịu lời" phải chăng là lời nài ép của Kiều với Vân, để Vân nghĩ suy mà chấp nhận. Hành động "thưa", "lạy" Thúy Vân của Kiều thoạt tiên thấy vô lý, bởi lẽ thương, có nào chị lại lạy em? Nhưng đặt trong hoàn cảnh trớ trêu của Kiều lúc này thì đó cũng là điều dễ hiểu, bởi Kiều lúc này đang là người nhờ vả, Vân là ân nhân có thể giúp nàng. Chỉ với hai câu thơ thôi nhưng ta có thể thấy được cách lựa chọn từ ngữ có chọn lọc tinh tế để diễn tả rõ nhất tâm trạng và cốt cách của nhân lời ngỏ cậy nhờ, Kiều giãi bày lòng mình với em. Những câu thơ đầy nghẹn ngào, chua xót"Giữa đường đứt gánh tương tưKeo loan chắp mối tơ thừa mặc emKể từ khi gặp chàng KimKhi ngày quạt ước khi đêm chén thềSự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai."Tác giả đã vận dụng những thành ngữ dân gian kết hợp cùng điển cố để nói về cuộc tình Kim- Kiều "giữa đường đứt gánh tương tư". Một người con gái yêu hết mình, sẵn sàng vượt qua những hà khắc của lễ giáo phong kiến để "xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" đến cùng người tình Kim Trọng mà giờ đây phải chịu cảnh đứt gánh thì làm sao tránh được những đớn đau, mất mát? Đoạn tình duyên đẹp đẽ nhưng đứt gánh giữa đường khiến Thúy Kiều vô cùng đau khổ, nàng mong em hiểu mà thay mình nối tiếp mối duyên "thừa". Là người sâu sắc lại thấu hiểu lẽ đời, Thúy Kiều hiểu được những thiệt thòi mà Thúy Vân phải mang khi giúp mình nối duyên với Kim Trọng, bởi vậy mà từng lời nói, hành động của nàng đều thể hiện sự tha thiết, chân thành và cả những áy náy khó giấu. Hai từ "mặc em" kết hợp cùng cụng động từ "keo loan chắp mối" như một sự phó thác chứa đựng niềm tin của Kiều nơi Vân- người em thân thích, máu mủ của dứt lời thì những kỉ niệm ngày xưa cùng Kim Trọng lại hiện về trong tâm trí, nàng thổn thức"Kể từ khi gặp chàng KimKhi ngày quạt ước khi đêm chén thềSự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai."Những kỉ niệm từ ngày đầu gặp gỡ đến những kỉ niệm tình yêu đẹp đẽ dưới ánh trăng"ngày quạt ước", "đêm chén thề" cứ thế ùa về trong tâm trí Thúy Kiều. Nàng nhớ về Kim Trọng, nhớ về đoạn tình duyên đẹp nhưng ngắn ngủi đã có của hai người, nàng cũng ý thức thấm thía được cái éo le, trắc trở của thực tại "sóng gió bất kì" khiến cho tình duyên đứt gánh. Có thể thấy ở đây Thúy Kiều không chỉ giãi bày nỗi niềm, hoàn cảnh của bản thân cho Thúy Vân mà còn là lời độc thoại của nàng với chính thuyết phục em hơn, Kiều nhắn nhủ"Ngày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước nonChị dù thịt nát xương tanNgậm cười chín suối hãy còn thơm lây"Cả Kiều và Vân đều đang tuổi xuân xanh, nhưng với Kiều, khi đã chấp nhận bán mình thì tuổi xuân cũng cạn. Nàng biết, phía trước là một tương lai mịt mờ, sóng gió luôn trực chờ để vây hãm lấy nàng. Còn với Thúy Vân thì khác, Vân còn thời gian, còn tuổi trẻ, còn cả những cơ hội để tìm hiểu, thương yêu Kim Trọng. Hơn nữa, Kiều và Vân đều là máu mủ ruột rà, chị em thân tình, hẳn em cũng không thể nào nhìn chị đau khổ, dằn mặt còn mình thì vui vẹn tuổi xuân được. Bởi vậy mà Kiều mong Vân sẽ chấp nhận lời cậy nhờ mà kết tóc se duyên cùng Kim Trọng. Nếu được em chấp thuận thì chị dẫu cho phải bước sang một thế giới khác, rời xa trần gian này thì vẫn mãn nguyện mà "ngậm cười", "thơm lây" nơi chín suối. Lời lẽ của nàng vừa thấu tình đạt lý, tiếng thơ vừa mang cả niềm hy vọng lại vừa chan chứa nỗi xót xa. Có lẽ, lúc này đây, lòng Kiều như đang rỉ máu, nỗi đau của một đoạn tình yêu tan vỡ nào có thể nguôi ngoai, dẫu cho duyên đã trao mà tình nào có cạn"Chiếc vành với bức tờ mâyDuyên này thì giữ vật này của chung"Dù em nên vợ nên chồngXót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên"Một tình yêu êm đềm dịu ngọt xưa kia, giờ chỉ còn là nỗi đau chia lìa đôi ngả. Kiều trao kỉ vật cho em mà tim thắt lại, lý trí muốn trao gửi mà con tim giằng xé, tiếc nuối. Chiếc vành, bức tờ mây là minh chứng riêng cho tình yêu Kim- Kiều, cùng với nó họ đã thề nguyền sống chết bên nhau, nhưng giờ đành trao cho em, làm "của chung" ba cho em kỉ vật mà lòng Kiều luyến tiếc, nỗi mong mỏi trở lại những ngày tháng bình yên xưa kia sao quá đỗi khó khăn, gắng níu giữ chút hơi ấm tình yêu ngày nào nhưng chỉ thấy toàn đau buồn, nhung nhớ. Từng câu thơ như máu rỉ trên đầu ngọn bút, thật xót xa!"Dù em nên vợ nên chồngXót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên"Và dù rằng có uất nghẹn, đau buồn đến đâu, Kiều vẫn không quên dành cho em sự mong mỏi, cầu cho Vân một cuộc sống đôi lứa ấm êm, hạnh 18 câu đầu đoạn trích, bằng tài năng của mình, Nguyễn Du đã cho ta hiểu sâu sắc nỗi đau cực độ của Kiều tình yêu tan vỡ. Từ đó, gửi gắm đến độc giả một thông điệp đầy nhân văn về tình yêu "Yêu không phải chỉ là vì mình mà còn vì hạnh phúc của người mình yêu".Trên đây VnDoc đã giới thiệu tới các bạn bài Phân tích 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên. Chắc hẳn qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính cũng như trau dồi được nội dung kiến thức của đề thi rồi đúng không ạ? Hy vọng rằng tài liệu này sẽ giúp ích cho các bạn học tốt môn Ngữ văn lớp 10. Các bạn cũng đừng quên tham khảo thêm các bài văn mẫu hay tại nhéTóm tắt văn bản Hồi trống Cổ Thành trích Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán TrungPhân tích 12 câu thơ đầu trong đoạn trích Trao duyên của Nguyễn DuPhân tích lời nhờ cậy thuyết phục Thuý Kiều khi Trao duyên trong 12 câu thơ đầuPhân tích 14 câu giữa của bài Trao duyên.........................................Ngoài Phân tích 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên. Để giúp các bạn có thêm nhiều tài liệu để học tập hơn nữa, mời các bạn học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 10, đề thi học kì 2 lớp 10 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với tài liệu lớp 10 này giúp các bạn rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn. Chúc các bạn ôn tập giúp các bạn có thể giải đáp được những thắc mắc và trả lời được những câu hỏi khó trong quá trình học tập. mời bạn đọc cùng đặt câu hỏi tại mục hỏi đáp học tập của VnDoc. Chúng tôi sẽ hỗ trợ trả lời giải đáp thắc mắc của các bạn trong thời gian sớm nhất có thể nhé. Trao Duyên là một đoạn thơ có ý nghĩa đặc biệt trong Truyện Kiều. Nó là một trong những đoạn thơ mở đầu cuộc đời mười lăm năm lưu lạc đầy đau khổ của Tliúy Kiều, thể hiện sâu sắc chủ đề bi kịch tình yêu tan vỡ của tác phẩm, đồng thời bộc lộ biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật của Nguyễn Du. Mở đầu là lời cầu khẩn của Kiều đối với Vân Cậy em, em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa Chỉ hai câu thơ mà Nguyễn Du đã dựng lên được một không khí, một cảnh ngộ đặc biệt. Lời nói của Kiều với Vân không còn là ngôn ngữ thông thường của chị nói với em trong một gia đình gia giáo nề nếp nữa. Những chữ cậy chứ không phải là nhờ, đặc biệt là sự khẩn khoản em “ngồi lên” cho chị “lạy rồi sẽ thưa” đã tạo nên một không khí trang trọng đặc biệt mở đầu cho một tình huống tâm lí hết sức phức tạp. Bằng những lời lẽ vừa khẩn khoản, vừa thiết tha, Kiều đã tự hạ mình xuống tư thế của người lụy phiền, van lơn, cầu khẩn chính đứa em ruột mình. Kiều hiểu được gánh nặng mình sắp trao cho em và càng hiểu sâu hơn tình thế khó xử của Vân. Cái điều mà Kiều muốn “thưa” với Vân chính là bi kịch tình yêu tan vỡ của mình, và tha thiết cầu khẩn Vân thay mình nối duyên với Kim Trọng. Lời tâm sự của Kiều không dài dòng nhưng đã nói được đầy đủ cả sự việc, cả lí lẽ và tình cảm của mình, nhằm cái đích chủ yếu là dọn một con đường của trái tim đến với trái tim. Kiều đã lay động ở Vân tình cảm chị em máu mủ, ruột thịt Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ, thay lời nước non Kiều còn viện cả cái chết của mình ra để nói lên sự toại nguyện nếu được Vân nhận lời thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. Chị dù thịt nát xương mòn Ngậm cười chín suối vẫn còn thơm lây. Lời thỉnh cầu của Kiều vừa chân thành, vừa thuyết phục vừa thiết tha, vừa ràng buộc đưa Vân đến tình thế “mặc nhiên” phải chấp nhận. Nàng Kiều của Nguyễn Du tỏ ra “sắc sảo mặn mà” cả trong bi kịch đau đớn nhất của mình. Song, nàng Kiều trong đoạn Trao duyên cũng như trong suốt Truyện Kiều không giản đơn chỉ là một con người hành động vì một mục đích nào đó. Nàng Kiều của Nguyên Du còn luôn luôn sống với những tâm tư, tình cảm thầm kín của mình. Nguyễn Du đã thâm nhập vào thâm cung của nội tâm nhân vật, miêu tả nàng Kiều với tất cả những trạng thái tình cảm phong phú, phức tạp như là một con người có thật ở ngoài đời. Kiều khẩn thiếtnhờ em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng nhưng cũng không hề giấu giếm nỗi đau khôn cùng Giữa đường đứt gánh tương tư của mình, không che giấu tình cảm sâu nặng của mình đối với chàng Kim Kể từ khi gặp chàng Kim. Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề. Mượn cả đến cái chết để nói lên sự thanh thản của mình nếu như Vân nhận lời nối duyên với chàng Kim, vậy mà khi trao những kĩ vật cho Vân, Kiều lại thấy mình mất mát to lớn không gì bù đắp nổi. Tay Kiều thì trao mà lòng Kiều như còn cố níu kéo giữ lại một chút gì cho mình “Chiếc thoa với bức tờ mây, Duyên này thì giữ vật này của chung”. Biết bao giằng xé, đau đớn, chua chát trong hai chữ “của chung” đầy phi lí ấy. Khẩn khoản van nài em nhận lời trao duyên của mình, vậy mà Kiều lại thấy mình như là kẻ bị “mất người”, coi mình như là “người mệnh bạc”. Tất cả những tình cảm mâu thuẫn ấy càng làm cho tấn bi kịch tình yêu tan vỡ của Kiều thêm đau đớn. Giở những kỉ vật trao cho Vân, Kiều như sống lại với những kỉ niệm cũ. Sự hiện diện của những kỉ vật càng gợi lên sự tương phản giữa hạnh phúc rực rỡ trong quá khứ với sự chia li đau đớn trong hiện tại. Lời hẹn ước thề bồi mới hôm nào, thoắt cái đã thành chuyện của ngày xưa, của quá vãng. Sự cảm nhận thời gian có màu sắc tâm lí đã tô đậm thêm nỗi đau đớn của nàng Kiều khi ý thức sâu sắc được sự cách biệt giữa quá khứ và hiện tại. Cố níu giữ tình yêu khi trao kỉ vật trong thế giới hiện tại chưa đủ, Kiều còn cố níu một lần nữa trong tương lai ở thế giới bên kia. Song, cái thế giới của “mai sau”, của linh hồn cũng không hơn gì thế giới của hôm nay, của cuộc đời thực, vẫn là lời của Kiều tâm sự, cầu khẩn với Vân tưởng như những lời từ thế giới bên kia vọng về, mà sao vẫn thấm đầy nước mắt Mai sau dù có bao giờ, Đốt lò hương ấy, so tơ phím này. Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Hồn còn mang nặng lời thề, Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai. Dạ đài cách mặt, khuất lời, Rảy xin chén nước cho người thác oan. Dẫu đã sang thế giới bên kia nhưng linh hồn Kiều vẫn còn “mang nặng lời thề”, vẫn còn mong muốn, khao khát qua những làn gió nhẹ “hiu hiu” trở về gặp lại người yêu. vẫn khao khát nhận được sự đồng cảm của con người nơi trần thế. Từ lúc tâm sự, giãi bày thuyết phục Vân nhận lời trao duyên đến lúc trao kỉ vật, rồi đến khi sống trong thế giới của hồn oan, Kiều càng ngày càng đau xót nhưng cũng càng ngày càng quyết liệt cố níu giữ tình yêu của mình bằng mọi cách. Thật quả là “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng!” Bản chất thủy chung son sắt với tình yêu đã làm cho nàng Kiều, ngay cả khi đã hóa thân vào hồn oan cũng tỏ ra rất người, rất trần thế. Dẫu có quay về với quá khứ, dẫu hướng tới tương lai ở thế giới bên kia nhưng nàng Kiều chủ yếu vẫn là con người sống trong thực tại. Nguyễn Du bằng cảm quan hiện thực của mình đã không trình bày cảnh trao duyên một cách đơn giản, sự việc này tiếp nối sự việc kia, mà biết dừng lại ở cái bây giờ, cái cá biệt, không lặp lại của thời gian và không gian để khám phá thế giới nội tâm của nhân vật. Nàng Kiều, cuối cùng, lại quay về với chính lòng mình, tột cùng đau đớn khi ý thức sâu sắc bi kịch trong hiện tại của mình. Sự tan vỡ tình yêu là có thật, là không gì cứu vãn nổi. Dồn dập những hình ảnh, những từ ngữ “trâm gãy bình tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “nước chảy hoa trôi”, “phận bạc như vôi”, đã nói lên thật thấm thìa, đầy xót thương về nỗi đau của nàng Kiều. Bi kịch của nàng Kiều lại càng sâu sắc khi trước hiện tại, nàng vẫn không thôi khao khát hạnh phúc tình yêu Bây giờ trâm gẫy bình tan Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân Đến đoạn cuối, Kiều như quên hẳn là đang nói với Vân mà như nói với chính mình. Bi kịch tình yêu tan vỡ lên tới tột đỉnh, Kiều thốt lên những tiếng kêu xé lòng Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Tên chàng Kim vang lên hai lần trong một câu thơ, vừa tha thiết, vừa xiết bao trân trọng. Câu cuối cùng là một thời than, lời tự trách mình. Bước ngoặt tâm lí này thật bất ngờ nhưng lại rất hợp lí, bị quy định bởi chính lôgic tính cách của Kiều. Nàng Kiều sống biết mình trong nỗi đau tột cùng của mình, nhưng trước sau vẫn là một con người giàu lòng vị tha. Kiều ân cần chu đáo với chàng Kim, nhưng vẫn tự cho mình là người đã “phụ” chàng. Kiều quên nỗi bất hạnh của mình để cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh của người khác. Kiều thương chàng Kim hơn cả chính bản thân mình. Kiều không đổ lỗi cho hoàn cảnh mà tự nhận trách nhiệm về mình. Có thể nói, chỉ một chữ “phụ” thôi mà đã làm sáng lên vẻ đẹp nhân cách cao thượng, giàu lòng vị tha của nàng Kiều. Đoạn Trao duyên, về hình thức, được trình bày như là lời tâm sự giãi bày của Kiều với Vân, tức -là bằng ngôn ngữ đôi thoại. Hình thức đối thoại ấy, rõ nhất là ở mấy câu thơ đầu, nhưng càng ngày càng mờ nhạt dần. Sự thật, cả đoạn thơ chỉ thấy ngôn ngữ của Kiều, không thấy lời đáp lại của Vân. Hình thức đôi thoại được dần dần chuyển thành hình thức độc thoại nội tâm. Ngòi bút bậc thầy của Nguyên Du đã miêu tả tâm lí Thúy Kiều trong cảnh trao duyên như là một quá trình tự ý thức về bi kịch tình yêu tan vỡ của mình, tự bộc lộ, tự phơi bày tâm tư, tình cảm và khát vọng sâu kín của mình. Và chính vì thế, người đọc như được chứng kiến tận mắt cảnh trao duyên chứ không phải được nghe thuật lại cảnh này. PHÂN TÍCH 18 CÂU ĐẦU BÀI TRAO DUYÊN Phân tích 18 câu đầu bài Trao Duyên đã thể hiện cho ta thấy được bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và nhân cách cao đẹp của Thúy Kiều bởi cách miêu tả nội tâm nhân vật tài tình, bút pháp tài hoa cùng khả năng dùng từ khéo léo của tác giả. Đoạn trích cũng là tiếng lòng, là sự đau đớn, xót xa của Thúy Kiều khi phải trao đi đoạn duyên tình sâu đậm của mình cho em gái vì chữ hiếu. Phân tích 18 câu đầu bài trao duyên Mở bài phân tích 18 câu đầu bài trao duyên Người phụ nữ trong xã hội xưa phải chịu lắm gian truân và đau khổ. Truyện Kiều là một trong những tác phẩm kinh điển của nền văn học Trung đại Việt Nam gột tả trọn vẹn được điều đó. Đoạn trích Trao Duyên nằm ở phần đầu của Truyện Kiều. 18 câu thơ đầu của đoạn trích như tiếng nấc lòng nghẹn ngào đầy u sầu của Thúy Kiều khi gửi lại tấm chân tình của mình nhờ em là Thúy Vân nối tiếp cùng Kim Trọng. Đoạn trích là tiếng lòng đầy đau đớn của Kiều. Xem thêm Top 3 mở bài trao duyên hay nhất Bài nghị luận văn học Trao duyên Thân bài phân tích bài trao duyên 18 câu đầu Duyên phận là mối tơ vương giữa hai người đã được ràng buộc về tình cảm chẳng thể dễ dàng chuyển giao hay nhường lại cho bất cứ một ai. Bởi lẽ đó Thúy Kiều đã tỏ ra thận trọng, ngần ngại khi nàng muốn Thúy Vân gá nghĩa cùng chàng Kim Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi hãy thưa Thúy Kiều tuy là chị, xét về vai vế cao hơn Thúy Vân nhưng để nhờ cậy em một điều tương đối tế nhị, nàng lại dùng những từ ngữ có sức biểu đạt đầy trân trọng. Từ “cậy” thể hiện thái độ tin tưởng, trông mong, đồng thời thể hiện sự quan trọng của Thúy Vân, rằng chỉ có Thúy Vân mới có thể giúp được mình; từ “chịu lời” được sử dụng giúp cho cả câu vừa là câu hỏi, là lời van lơn nhưng cũng đồng thời là sự bắt buộc, ràng buộc Thúy Vân. Thúy Kiều bảo Thúy Vân hãy ngồi lên cho mình “lạy” rồi “thưa”. Đặt trong ngữ cảnh lúc bấy giờ hành động của nàng Kiều không hề khó hiểu và vô lý, mà ngược lại, nó hoàn toàn phù hợp. Bởi Kiều chẳng còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc nhờ chính em gái ruột của mình để trọn vẹn tình ngãi với Kim Trọng. Đồng thời, hành động ấy của Thúy Kiều cũng lột tả sự khó xử, đầy éo le của cả hai chị em nàng. Thúy Kiều thì khó mở lời phó thác hạnh phúc của em cùng chuyện tình cảm của bản thân, còn Thúy Vân lại khó có thể lên tiếng khước từ trước lời nhờ cậy thiết tha của chị. Và Thúy Vân từ đây có lẽ rằng đã ngờ ngợ hiểu ra điều quan trọng, khó xử mà chị sắp nói đến. Phân tích trao duyên 18 câu đầu Khi Thúy Vân đã thấu hiểu phần nào, Thúy kiều bắt đầu bày tỏ Giữa đường đứt gánh tương tư Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em Hóa ra Kiều mong Vân có thể thay mình gá nghĩa cùng chàng Kim, cùng Kim Trọng viết tiếp câu chuyện tình dở dang của mình. Chuyện ấy sao Kiều phải làm như hệ trọng đến vậy? Có lẽ bởi Kiều xuất thân từ một gia đình gia giáo trong xã hội xưa và đó cũng là chuyện cả đời người nên nàng không thể đơn sai, qua loa được. Đó là “gánh tương tư, là nghĩa vụ, là bổn phận, là trách nhiệm trong tình yêu của Thúy Kiều đối với Kim Trọng. Từ “mặc” được Kiều dùng như thể vừa để em tùy lòng quyết định, vừa là sự phó mặc, buông xuôi của Kiều. Thúy Kiều đã đặt Thúy Vân vào sự đã rồi, vào sự lựa chọn không thể từ chối. Biết rằng trao đi phần duyên tình này cho Vân là làm khó em, là làm đau mình và trong lòng Thúy Vân chắc hẳn cũng sẽ dấy lên nhiều đắn đo, suy nghĩ nhưng Kiều không thể làm khác. Thúy Kiều đã rất khéo léo trong việc lựa lời thuyết phục Vân Kể từ khi gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề. Sự đâu sóng gió bất kỳ, Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai? Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ, thay lời nước non. Thúy Kiều kể lại với Vân giữa mình với Kim Trọng đã trót có lời thề non hẹn biển. Trong xã hội xưa, lời thề có giá trị khá đặc biệt, chúng có giá trị vô cùng, sắt son, khắc sâu ân tình nghĩa đậm hai bên, mãi mãi chẳng chia lìa. Lời thề là linh hồn, là phẩm giá mỗi người. chính vì thế mà bất cứ ai cũng không thể phản bội lại lời thề của chính mình. Xem thêm Bài cảm nhận 14 câu giữa bài trao duyên Phân tích 4 câu miêu tả Thúy Vân Thế nhưng vì hoàn cảnh éo le, vì gia biến, vì thằng bán tơ vu oan, vì chữ hiếu mà Thúy Kiều phải đành hi sinh chữ tình, chẳng thể thực hiện tròn cái ước hẹn với Kim Trọng. Nhưng dù vậy, Kiều không muốn bội tin, không muốn Kim Trọng vì mình đau khổ nên đành nhờ Thúy Vân thay mình nối tiếp lời ước hẹn hôm nào. Kiều khéo léo cậy lời Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ thay lời nước non Thúy Kiều rất tinh tế và khéo léo, nàng dường như hiểu rõ được sự băn khoăn, chơi vơi trong tình cảm của Thúy Vân. Thúy Kiều hiểu rằng Thúy Vân sẽ đắn đo vì đó là hạnh phúc cả đời người con gái, không thể dễ dàng quyết định. Chính vì vậy, Kiều vỗ về rằng Thúy Vân còn trẻ, ngày xuân còn dài, thời gian còn nhiều, sau này tất còn có nhiều cơ hội để vun vén tình cảm, sợ chi “mối tơ thừa”. Mong Vân hãy vì tình chị em, vì Kiều đã hi sinh báo hiếu, vì nỗi đau của chị mà hãy chấp nhận lời nhờ cậy của mình. Cảm nhận 18 câu đầu đoạn trích trao duyên Phân tích 18 câu đầu bài trao duyên ta thấy tình cảm của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng rất sâu nặng, nó như khắc sâu vào từng ngóc ngách trong tâm hồn nàng. Bởi thế trao đi mối tơ duyên này, trong lòng Kiều cũng đầy dằng xé và đớn đau Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây Trao người mình hết mực yêu thương, trao đi tình cảm mặn nồng cho Thúy Vân dường như đã rút hết sức lực, tâm hồn Thúy Kiều. Thúy Kiều như cái xác không hồn, nàng thấy sự sống của mình như vô nghĩa, như đã chấm dứt. Ở đây, tác giả dùng nhiều từ như “thịt nát xương mòn’; “ chín suối”... nhằm gột tả được tận cùng nỗi đau của Kiều. Chỉ cần Vân nhận lời gá nghĩa, đắp xây hạnh phúc cùng Kim Trọng thì dù nơi chín suối Thúy Kiều vẫn mỉm cười, vẫn thấy an ủi và vui lòng khi em mình đã thay mình sống cho tròn cái nghĩa cái tình. Đó chắc hẳn là một tâm trạng đầy đau khổ, bẽ bàng, đớn đau đến tột cùng của Thúy Kiều khi phải dứt bỏ mối duyên tươi đẹp mới đắp xây của mình. Khi Thúy Vân đã phần nào thấu hiểu và chấp nhận, Thúy Kiều trao lại kỷ vật đính ước cho em và dặn dò Chiếc thoa với bức tờ mây Duyên này thì giữ, vật này của chung. Dù em nên vợ nên chồng, Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên! Mất người còn chút của tin, Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa. Có lẽ đây là thời khắc khó khăn nhất với Kiều. Bởi lẽ đó là những vật gắn liền với những kỉ niệm gắn bó của Kiều và Kim Trọng, là minh chứng rõ ràng nhất cho tình cảm Kim – Kiều. Đó là chiếc vòng tay Trọng tặng cho Kiều trong lần đầu tiên gặp gỡ, là tờ mây với những lời thề ước hẹn trăm năm, là phím đàn đêm trăng thanh cất lên khúc nhạc cho bản tình ca Kim Kiều,… Những kỉ vật như gợi lại mối tình hạnh phúc ngắn ngủi của Kim Trọng và Thúy Kiều. Càng hạnh phúc lại càng bẽ bàng xót xa. Nhịp thơ ngắt nghỉ như tiếng thở dài đầy bịn rịn xen chút tiếc nuối của Kiều khi đặt vào tay em những món kỉ vật vốn đã trở thành thói quen gắn bó với mình. Và rồi rằng cũng có mong muốn nhỏ nhoi dấy lên trong lòng Kiều, “Duyên này thì giữ, vật này của chung”. Duyên này kiều trao cho Vân nhưng xin Vân hãy cho những tín vật này là của chung của chúng ta, xin em hãy cho chị chút ích kỷ để được cùng Vân cùng Trọng sở hữu kỉ vật này. Phân tích 18 câu đầu trong đoạn trích trao duyên Phân tích trao duyên 18 câu đầu ta thấy Mối tình dù có trao duyên đi nhưng Kiều cũng không thể không yêu thương Kim Trọng, không thể hoàn toàn buông đoạn tình cảm đã từng rất đẹp. Và Kiều cũng không thể phủ nhận cảm xúc trái ngang đầy mâu thuẫn này đầy quyến luyết và xót xa trăm bề. Ngẫm lại quãng thời gian đã qua Kiều thương thay thân mình, cho rằng mình là người “mệnh bạc”, cái chết vẫn luôn thường trực đau đáu trong suy nghĩ Thúy Kiều đã hi sinh đi hạnh phúc cá nhân để làm tròn đạo hiếu, gánh gồng an yên gia đình, Thúy Kiều đã làm tròn cái đạo làm con và cả cái nghĩa với người thương. Với 18 câu thơ đầu đoạn trích Trao duyên ta thấy Nguyễn Du xứng đáng là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ. Bằng ngòi bút khéo léo, tinh tế Nguyễn Du đã sai khiến đội quân ngôn ngữ của mình một cách điêu luyện, hòa hợp, để có thể bóc trần, lột tả chân thực cung bậc cảm xúc phức tạp đang ẩn dấu, giằng xé trong nỗi lòng mỗi nhân vật. Thúy Kiều trao duyên nhưng chẳng trao tình; tình cảm với Kim Trọng vẫn được nàng lưu giữ, trân trọng. Kết bài phân tích Trao duyên 18 câu đầu Phân tích 18 câu đầu bài trao duyên ta có thể thấy Nguyễn Du đã đem đến cho độc giả cái nhìn đúng đắn đầy nhân văn cao đẹp về tình yêu Yêu là để người mình yêu hạnh phúc, yêu là trọn vẹn và thủy chung sắt son một lòng. Tình yêu chân thành là bất tử và trường tồn. Cứ ngỡ một con người tài sắc vẹn toàn, mười phân vẹn mười như Kiều sẽ được sống một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc thế nhưng lại trớ trêu thay, cuộc đời Kiều lại nổi trôi vô định đến xót lòng. Và phải chăng đó cũng là lời than thân chung cho số phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa? Và phải chăng mọi sóng gió mới chỉ là bắt đầu, trang sách giông tố cuộc đời nàng mới chỉ bắt đầu từ hôm nay.. Bài văn mẫu lớp 10Nghị luận trao duyênDàn ý nghị luận văn học đoạn trích Trao duyênNghị luận văn học đoạn trích Trao duyên mẫu 1Nghị luận văn học đoạn trích Trao duyên mẫu 2Nghị luận văn học đoạn trích Trao duyên mẫu 3Nghị luận văn học đoạn trích Trao duyên mẫu 4Văn mẫu lớp 10 Nghị luận văn học đoạn trích Trao duyên được VnDoc sưu tầm và đăng tải xin gửi tới bạn đọc cùng tham khảo. Tài liệu gồm bài văn mẫu nhằm giúp các bạn có thêm tài liệu tham khảo, chuẩn bị tốt cho bài giảng sắp tới của mình. Mời các bạn tải về tham khảo chi tiết và tải về bài viết tại đây tiện trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về giảng dạy và học tập các môn học lớp 10, VnDoc mời các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh và các bạn học sinh truy cập nhóm riêng dành cho lớp 10 sau Nhóm Tài liệu học tập lớp 10. Rất mong nhận được sự ủng hộ của các thầy cô và các ý nghị luận nếu một ngày cuộc sống của bạn bị nhuốm màu đen hãy cầm bút và vẽ cho nó những vì sao lấp lánhNghị luận văn học đoạn trích Chí khí anh hùngDàn ý nghị luận văn học đoạn trích Trao duyên1. Mở bàiGiới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích Trao Thân bàia. Hoàn cảnh của Thúy Kiều- Là con của một viên ngoại, gia cảnh sung túc, nàng lại có nhan sắc xinh đẹp và tài năng cầm kỳ thi họa có một không hai, có một mối lương duyên tốt đẹp là chàng Kim Chỉ trong một đêm nhà tan cửa nát, cha và em bị bắt đi, gia sản bị niêm phong, sóng gió ập xuống trên đôi vai bé nhỏ và buộc nàng phải đỡ lấy => Số phận của Thúy Kiều thật mỏng manh và tội Thúy Kiều đã quyết tâm làm tròn chữ hiếu và phụ đi chữ tình, bán mình làm vợ lẽ cho người ta để đổi lấy vài trăm lượng bạc chuộc cha và em => Tinh thần trách nhiệm, ý thức gánh vác gia đình, lòng hiếu thuận sâu Sự thông minh khôn khéo của Kiều trong cảnh trao duyên cho em gái Thúy Vân- Kiều hiểu rằng việc trao duyên cho em là một chuyện hết sức khó khăn và không dễ mở lời. Thế nên nàng đã rào trước đón sau rằng "Cậy em em có chịu lời/Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa".- Đưa Thúy Vân vào thế bị động, kéo Thúy Vân ra khỏi sự vô lo vô nghĩ, đồng thời trao cho nàng một phần trách Nàng nhanh chóng kể vắn tắt cuộc tình của mình với Kim Trọng đồng thời cũng giải thích những nỗi day dứt, "Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai của mình", để nhận được sự thấu hiểu và thông cảm của em Tinh tế bộc lộ sự thấu hiểu của mình đối với cảnh ngộ của Thúy Lấy cả tình máu mủ ruột già, lấy cả cái tấm lòng mong mỏi "thịt nát xương mòn", dù chết cũng cam nguyện để khiến Thúy Vân thấu hiểu và đồng Nỗi day dứt, tiếc nuối và chút ích kỷ trong tình yêu- Kiều đã trao lại cho em tất cả tín vật giữa mình và Kim Trọng như một nghi thức trao duyên, từ "chiếc vành" đến "bức tờ mây".- Thốt ra một câu nói rất mâu thuẫn "Duyên này thì giữ vật này của chung".→ Hóa ra Thúy Kiều không mạnh mẽ như ta tưởng tượng, bên cạnh sự thông minh khéo léo, sắc sảo thuyết phục trao duyên cho em, thì ta thấy ở nàng còn là nỗi buồn bã, đau khổ, nhiều tiếc nuối trước chuyện tình tan Nỗi đau đớn đoạn trường của Kiều sau khi đã trọn tình trọn hiếu- Kiều thốt lên những tiếng khóc đau đớn trước mối duyên "trâm gãy bình tan", đồng thời bộc lộ tình yêu thương tha thiết với Kim Trọng "kể làm sao xiết muôn vàn ái ân", rồi cuối cùng là lời tạ lỗi, từ biệt đầy xót xa dành cho tình lang "Trăm nghìn gửi lạy tình quân/Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi", để xem như là lời kết thúc cho mối duyên ngắn ngủi của mình với chàng Ý thức một cách rất rõ ràng cái số kiếp hồng nhan bạc mệnh của mình, vừa bạc như vôi trắng, lại lênh đênh, lạc lõng, mỏng manh như cánh hoa trôi theo dòng Nghệ thuậtNghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật của Nguyễn Du cho chúng ta thấy đầy đủ những cung bậc cảm xúc, cũng như suy nghĩ của Thúy Kiều trong lúc trao Kết bàiNêu cảm nhận luận văn học đoạn trích Trao duyên mẫu 1Nguyễn Du, một đại thi hào của dân tộc Việt Nam, ông sinh năm 1766 mất năm 1820, tên chữ là Tố Như. Quê ông ở Hà Tĩnh, ông được sinh ra trong một gia đình phong kiến quý tộc. Sống trong giai đoạn đồng tiền làm băng hoại đạo đức, đầy biến động, Nguyễn Du chứng kiến được rất nhiều cảnh đời bất công, cũng như sự thối nát của xã hội bấy giờ. Và ông có sự cảm thông sâu sắc đối với người phụ nữ bất hạnh. Nguyễn Du đã viết ra nhiều tác phẩm văn học để nói thay cho tấm lòng đầy ai oán, cho số phận bạc mệnh đáng thương của người phụ nữ. Trong đó có bài “Trao Duyên”, là một bài thơ trong tuyệt tác “Truyện Kiều”, một bài thơ bi cảm được thể hiện qua từng câu, từng chữ, nó mang đến một nỗi xúc động khôn nguôi cho người yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng đang tươi đẹp, nồng nàn thì Kim Trọng phải về Liêu Dương hộ tang chú. Trong khi đó tai họa đổ ập xuống gia đình Thúy Kiều. Của cải bị bọn sai nha vét sạch. Cha và em trai Thúy Kiều bị bắt, bị đánh. Bọn quan lại đòi đút lót “có ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Trước biến cố đau lòng đó, một người giàu tình cảm, giàu đức hy sinh như Thúy Kiều không còn cách nào khác là phải bán mình lấy tiền cứu cha và em. Nhưng còn mối tình với Kim Trọng? Thúy Kiều hết sức đau khổ. Cuối cùng nàng quyết định nhờ em thay mình lấy Kim Trọng. Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” rất cảm động. Có lẽ đây là cảnh tượng đau lòng chưa từng thấy trong nền văn học nhân vào cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã dựng lại tình tiết trao duyên thật sống động. “Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân” thì thấy chị mình đang thổn thức giữa đêm khuya. Vân ghé đến ân cần hỏi han. Thúy Kiều thật là khó nói, nhưng “để lòng thị phụ tấm lòng với ai”. Thương cha, nàng bán mình, thương người tình, nàng đành cậy em“Cậy em, em có chịu lời,Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ đường đứt gánh tương tư,Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”Trong dãy từ diễn tả khái niệm nhờ, Nguyễn Du đã chọn từ “cậy”, tuyệt vời chính xác. Từ “cậy” hàm chứa niềm tin mà người được nhờ không thể thoái thác được. Lại thêm một cử chỉ thiêng liêng là “lạy”. Thuở đời chị lại lạy sống em bao giờ! Mà chỉ để trao duyên. Mối tình với chàng Kim sâu nặng biết chừng nào, thiêng liêng biết chừng nào! Trong nước mắt, giữa đêm khuya, Thúy Kiều đã kể lể sự tình cho cô em nghe“Kể từ khi gặp chàng KimKhi ngày quạt ước, khi đêm chén thềSự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”Thúy Kiều đã kể nhanh những sự kiện mà Thúy Vân cũng đã chứng kiến. Chuyện gặp chàng Kim trong buổi chiều thanh minh. Chuyện kể nguyền hẹn ước với Kim Trọng. Chuyện sóng gió của gia đình. Nhưng có một chi tiết mà đối với cái trí bình thường của Thúy Vân không bao giờ biết được“Hiếu tình không dễ hai bề vẹn hai”Qua lời Thúy Kiều, Nguyễn Du đay nghiến cả một xã hội. Hiếu – tình là hai giá trị tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo. Thúy Kiều đã cay đắng lựa chọn chữ “hiếu”. Mà chỉ có ba điều tồn tại “Đức tin, hi vọng và tình yêu, tình yêu vĩ đại hơn cả”. Nghe một lời trong Kinh Thánh như vậy, chúng ta càng thấm thía với nỗi đau của nàng nên hy sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng.“Ngày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước nonChị dù thịt nát xương mònNgậm cười chín suối hãy còn thơm lây”Hai chị em đều “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” vậy mà nàng nói “ngày xuân em hãy còn dài” đau đớn biết chừng nào! Lời lẽ thiêng liêng của nàng là vì lo cho Kim Trọng, mong sao cho chàng Kim có hạnh phúc trong tan vỡ. Trong đau khổ tuyệt vọng, nàng còn biết lo cho hạnh phúc của người khác. Thật là một cô gái có đức hi sinh lớn là em thuận lòng con người trời sinh ra để hưởng hạnh phúc đó, trong giờ phút này cũng dễ thuận lòng lắm. Với lại chị nói cảm động quá. Mà anh Kim Trọng em đã nhất kiến rồi, cũng dễ thương lắm, nàng trao cho em những kỷ vật giữa nàng và chàng Kim“Chiếc thoa với bức tờ mâyDuyên này thì giữ, vật này của chung”Tình cảm dẫu sao vẫn còn trừu tượng, chứ kỷ vật của tình yêu thì cứ hiển nhiên hiện ra đó, cho nên Thúy Kiều trao “chiếc thoa với bức tờ mây” cho em thì nàng cũng đau đớn đến tột độ. Mỗi lời của nàng nặng như chì. Nàng trao duyên, trao kỷ vật cho em. Cái xã hội bắt con người phải chung cả cái không thể chung được thì có đáng ghét không, có đáng nguyền rủa không? Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con Kiều trao duyên là coi như mình đã khuất. Nàng dặn em giữ gìn kỷ vật và còn dặn em hãy thương lấy linh hồn vật vờ đau khổ của chị trên cõi đời đen bạc này“Mai sau dù có bao giờ,Đốt lò hương ấy, so tờ phím ra ngọn cỏ lá cây,Thấy hiu hiu gió thì hay chị còn mang nặng lời thề,Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.”Thúy Kiều tưởng tượng nàng chỉ còn là bóng ma. Lời lẽ huyền hồ. Bóng ma nàng sẽ hiện lên trong hương trầm và âm nhạc. Hồn ma còn mang nặng lời thề với Kim Trọng, cho nên dẫu “thịt nát xương mòn” thì hồn nàng vẫn còn quanh quẩn với “ngọn cỏ lá cây”, với “hiu hiu gió…” Tình của người bạc mệnh vẫn còn làm chấn động cả vũ đớn tột cùng trước sự đổ vỡ của tình yêu, nàng quên rằng trước mặt mình là Thúy Vân mà than khóc với Kim Trọng“Trăm nghìn gửi lạy tình quân,Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôiPhận sao phận bạc như vôi!Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.”Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách mình là “phận bạc”, là “hoa trôi”, những hình ảnh đó làm động lòng thương đến hết thảy chúng ta. Đối với Kim Trọng, nàng còn mặc cảm tội lỗi là chính nàng đã “phụ chàng”. Chính tâm lý mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu trời“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!”Đoạn “Trao duyên” trong “Truyện Kiều” là một khúc “đoạn trường” trong thiên “Đoạn trường tân thanh”. Với con mắt tinh đời, Nguyễn Du đã phát hiện thấy trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân là một tình tiết rất cảm động và bằng nghệ thuật tuyệt vời, ông đã dựng lại đoạn “Trao duyên” hết sức sâu sắc và độc đáo. Tác giả đã đối lập hai tính cách của hai chị em một cách tài tình con người của đời thường và con người của phi thường. Trong sự kiện “sóng gió bất kì” này, Thúy Vân vô tư, hồn nhiên cũng đừng vội chê trách Thúy Vân. Nhân vật này còn là một kho bí mật trong công trình nghệ thuật kiệt tác của Nguyễn Du mà chúng ta chưa kịp bàn ở đây, còn Thúy Kiều thì lại càng đau đớn hơn. Nguyễn Du đã dụng công miêu tả tâm lý, sự vận động nội tâm nhân vật, cũng có thể nói Nguyễn Du đã đạt đến phép biện chứng của tâm hồn. Chỉ qua đoạn “trao duyên”, chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Nói như Mộng Liên Đường Chủ nhân là khúc đoạn trường này như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có nước mắt của thi nhân thấm qua trang giấy. Hơn hai trăm năm rồi, những giọt nước mắt nhân tình ấy vẫn chưa luận văn học đoạn trích Trao duyên mẫu 2Đoạn trích Truyện Kiều này có nhan đề "Trao duyên" gồm 34 câu từ câu 723 đến câu 756 được in trong sách giáo khoa môn Văn lớp 10. Đây là một trong những đoạn thơ mở đầu cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thúy Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt do có kẻ vu oan, Thúy Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót cho quan lại cứu cha và em. Đêm cuối cùng trước ngày ra đi theo Mã Giám Sinh, Thuý Kiều nhờ cậy Thúy Vân thay mình trả nghĩa, lấy Kim xuân em hãy còn dàiNhan đề đoạn trích là Trao duyên nhưng trớ trêu thay đây không phải là cảnh trao duyên thơ mộng của những đôi nam nữ mà ta thường gặp trong ca dao xưa. Có đọc mới hiểu được, "Trao duyên", ở đây là gửi duyên, gửi tình của mình cho người khác, nhờ người khác chắp nối mối tình dang dở của mình. Thúy Kiều trước phút dấn thân vào quãng đời lưu lạc, bán mình cứu cha, nghĩ mình không giữ trọn lời đính ước với người yêu, đã nhờ cậy em là Thúy Vân thay mình gắn bó với chàng Kim. Đoạn thơ không chỉ có chuyện trao duyên mà còn chất chứa bao tâm tư trĩu nặng của Thúy đầu đoạn thơ là 8 câu tâm sự của Thúy Kiều, về mối tình của mình với chàng Kim. Kể ra, với người xưa, một mối tình thiêng liêng như Thúy Kiều - Kim Trọng thường được giấu kín trong lòng ít khi người ta thổ lộ với người thứ ba. Vậy mà, ở đây, Thúy Kiều phải bộc lộ tất cả với Thúy Vân. Hơn thế nữa, nàng phải lạy em như lạy một ân nhân, một bậc bề trên, phải nói với em bằng những lời lẽ nhún nhường gần như van vỉCậy em, em có chịu lời,Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ phải nhờ mà là cậy, chị nhờ em giúp chị với tất cả lòng tin của chị. Nhờ em nhưng cũng là gửi gắm vào em. Bao nhiêu tin tưởng bao nhiêu thiêng liêng đặt cả vào từ cậy ấy! Cũng không phải chỉ nói mà là thưa, kèm với lạy. Phải thiêng liêng đến mức nào mới có sự "thay bậc đổi ngôi" giữa hai chị em như thế. Nguyễn Du thật tài tình, như đọc thấu tất cả nỗi lòng nhân vật. Nỗi đau khổ vì không giữ trọn lời đính ước với chàng Kim đã buộc Thúy Kiều phải nói thật, nói hết với em, phải giãi bày tất cả. Bởi vì không có cách nào khác là phải nhờ em. Gánh tương tư đâu có nhẹ nhàng gì, thế mà vì mình giờ đây bỗng giữa đường đứt gánh, ai mà không đau khổ. Nhưng, gánh nặng vật chất thì san sẻ được, nhờ người khác giúp đỡ được, còn gánh tương tư mà nhờ người khác giúp đỡ cũng là điều hiếm thấy xưa nay. Vì vậy, Kiều mới phải cậy em, mới phải lạy, phải thưa, vì nàng hiểu nỗi khó khăn, sự tế nhị của gánh nặng này. Rõ ràng, Thúy Vân cũng phải hi sinh tình yêu của mình để giúp chị. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều không chỉ trao duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái. Tuy nhiên, Thúy Vân vốn là cô gái vô tư, thơ ngây trong gia đình họ Vương lúc vạ gió tai bay, Thúy Kiều phải giành cho mình phần hi sinh lớn hơn; không chỉ hi sinh tình yêu mà hi sinh cả cuộc đời để cứu cha, cứu duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa của mối tình đầu, kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về. Những kỉ vật thiêng liêng nàng vẫn giữ, minh chứng cho tình yêu của nàng với chàng Kim, dễ gì trong phút chốc lại phải trao sang tay người khác, cho dù người đó chính là em gái mình? Tình yêu đôi lứa vốn có chút ít ích kỉ bên trong, đó cũng là lẽ thường tình. Chiếc thoa với bức tờ mây, Phím đàn với mảnh hương nguyền... vốn là kỉ vật riêng của Thúy Kiều, kỉ vật ấy có ý nghĩa tượng trưng cho hạnh phúc của nàng. Bây giờ, những kỉ vật thiêng liêng ấy, nàng phải trao cho em, không còn là của riêng của nàng nữa mà đã trở thành của chung của cả ba người. Đau xót làm sao khi buộc phải cắt đứt tình riêng của mình ra thành của chung! Biết vậy nhưng Thúy Kiều cũng đã trao cho em với tất cả tấm lòng tin cậy của tình ruột thịt, với tất cả sự thiêng liêng của tình yêu với chàng Kim. Nàng thuyết phục em mới khéo làm saoNgày xuân em hãy còn dài,Xót tình máu mủ, thay lời nước dù thịt nát xương mòn,Ngậm cười chín suối hãy còn thơm hết giữa chị với em là tình máu mủ; vì tình máu mủ ai nỡ chối nhau? Vì vậy, suốt từ đầu đến cuối đoạn thơ không hề thấy lời nói của Thúy Vân. Thúy Kiều như người đang dốc bầu tâm sự, nàng phải dốc cạn với em mới có thể thanh thản ra đi. Nàng tưởng tượng đến lúc mình đã chết, oan hồn trở về lẩn quất bên chàng Kim. Khi đó, âm dương cách biệt, chỉ có chén nước mới giải được mối oan tình. Lời tâm sự sao mà thương!Xót tình máu mủ, thay lời nước nonCuối đoạn thơ nàng tưởng như mình đang nói với người yêu. Nỗi lòng vẫn ngổn ngang tâm sự, vẫn còn trăm nghìn điều muốn nói với chàng, vẫn không làm sao kể cho xiết muôn vàn ái ân giữa nàng với chàng; không giữ được trọn lời thề nguyền với chàng, nàng đành gửi chàng trăm nghìn lạy. Nàng gọi Kim Trọng là tình quân, nàng xót xa cho duyên phận của mình tơ duyên ngắn ngủi, nàng tự coi mình là người phụ bạc. Thật đau khổ biết bao trao duyên rồi, đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn thương vẫn chất chứa trong lòng nàng Kiều. Phải chăng, một lần nữa Nguyễn Du đã thể hiện đúng quy luật tâm lí của con người cái gì đong mà lắc thì vơi, nhưng sầu đong càng lắc càng đầy là như thế! Tình duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương tơ lòng là như vậy. Cuối đoạn thơ, mặc dù Kiều đã giãi bày hết nỗi khổ tâm riêng của mình với em, đã nhờ em trả nghĩa cho Kim Trọng nhưng những đau khổ vì tình duyên tan vỡ trong tâm trí nàng vẫn không nguôi. Vẫn còn mang nặng nợ tình với Kim Trọng, vẫn biết mình phận bạc, Thúy Kiều vẫn phải thốt lên đau đớnÔi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!Phải chăng đây là tiếng thơ kêu xé lòng mà sau này nhà thơ Tố Hữu đã nói thay bao người, bao thế hệ!Đoạn thơ, trừ những câu đầu tâm sự với Thúy Vân, trao duyên cho Thúy Vân, còn thực chất là đoạn độc thoại nội tâm của Thúy Kiều. Với nghệ thuật thể hiện tài tình, Nguyễn Du giúp người đọc nhìn thấu tâm trạng đau khổ của Thúy Kiều. Càng hiểu nàng bao nhiêu, ta càng thương nàng bấy nhiêu, cảm phục nàng bấy nhiêu. Bởi vì người ta có thể hi sinh mọi thứ vì tình yêu, còn nàng thì lại hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Điều đó chẳng đáng cảm phục lắm sao?Nghị luận văn học đoạn trích Trao duyên mẫu 3Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam và cũng là của thế giới. Ông tên là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Ông sinh ra trong một gia đình phong kiến quý tộc và sống trong xã hội phong kiến – Một xã hội suy thoái, thối nát. Nguyễn Du đã từng trải qua hơn chục năm sống gian khổ ở nhiều vùng quê khác nhau, nếm đủ những thứ vị đắng cay của cuộc sống phong trần. Trong đó có mùi vị của sự chia ly, dang dở của tình yêu đôi khi đi sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Du sáng tác nên đại thi phẩm bất hủ ”Truyện Kiều”.Đoạn trích “Trao Duyên”là một đoạn trích thể hiện khá rõ bi kịch tan vỡ, dang dỡ của tình yêu Thuý Kiều - Kim Trọng và nỗi đau tột cùng của Kiều về số phận bi kịch của nàng, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa xuyên suốt trong thơ Nguyễn Du trước những đau khổ, bất hạnh cũng như khát vọng hạnh phúc của con người. Cùng nhau tìm hiểu nội dung nghị luận văn học Trao duyên 12 câu đầu để hiểu rõ về mối tình Kiều - khi giải quyết xong thủ tục bán mình “Tờ hoa đã ký-cân vàng mới trao”, lấy tiền lo cho vụ kiện nhà Kiều, ngày mai Kiều sẽ phải rời theo Mã Giám Sinh ra ấy Kiều bồi hồi thương cho chàng Kim, tìm cách trả nghĩa nợ tình cho thắp sáng đêm, nước mắt đầm Thúy Vân thức dậy hỏi, Kiều bây giờ mới cậy em thay lời và trao duyên cho tình Kim-Kiều đâu phải là mối tình trăng gió thoảng là mối tình đầu say đắm nhất, trong sáng mà giờ đây phải đem mối tình ấy trao cho người khác – còn có nỗi đau nào hơn?!Lời Thuý Kiều nói với em đau đến từng chữCậy em em có chịu lờiNgồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưaMở đầu cuộc trao duyên, Thuý Kiều có cách nói, cách xưng hô đặc sao Kiều không nói “nhờ em” mà lại nói “cậy em” ?Bởi vì chữ cậy bao hàm ý hy vọng tha thiết của một lời trông cậy, có ý nương tựa, tin tưởng nơi quan hệ ruột thịt, gửi gắm nỗi khẩn khoản thiết nói “em có chịu lời” chứ không nói “em có nhận lời” ngoài lý do từ “chịu lời” mang sắc thái bắt buộc, Kiều muốn em không được từ chối đề nghị của mình mà còn bởi vì Kiều cảm thấy đây là một sự thiệt thòi, một sự hy sinh lớn lao của em Vân – em sẽ phải yêu và kết duyên vợ chồng với một người mà mình chưa nói như thế phù hợp với hoàn cảnh và tâm trạng van nài, khẩn thiết của xưa, giáo lý phong kiến thời xưa rất nghiêm nay bề dưới lạy bề trên, em phải thưa gửi lễ phép khi nói với lúc này, Kiều lại đang bảo em “ngồi lên” rồi “lạy”, ”thưa”.Tại sao Kiều lại chấp nhận hạ mình xuống hàng thấp của người thấp vế?Bởi vì việc và Kiều sắp “cậy” em là một việc rất hệ thế “lạy”, ”thưa” là tư thế của một người chịu ơn với ân nhân của vậy, em Vân sẽ phải thay Kiều hy sinh tình duyên của mình mà giúp Kiều nối duyên với chàng Kim, việc làm đó Kiều mang ơn em rất ra, hành động “lạy”, ”thưa” của Kiều còn tạo ra một bầu không khí nghiêm trang, trịnh trọng, Kiều “vưa tình vừa lễ”, làm cho em không thể không nhận cách dùng từ khéo léo và đầy sắc thái ý nghĩa, chỉ qua hai câu thơ, Nguyễn Du đã mở đầu cuộc trao duyên đầu hồi hộp, trang trọng và đồng thời thể hiện hoàn cảnh éo le, tâm trạng khẩn thiết, bế tắc của Du không kể lại thái độ của Thuý Vân ra sao bởi vì hai câu đầu chỉ là lời bày tỏ ý là sau đó, Kiều nói ngay đến mối tình dang dở của mìnhGiữ đường đứt gánh tương tưKeo loan chắp mối tơ thừa mặc emTrong thời đại phong kiến, không được phép tự do yêu đương, thì đây là một tâm sự còn giấu kín của đây Kiều buộc phải nói rõ cho em xưa xem tình yêu là một gánh nặng, cho nên người ta hay nói”gánh tương tư”.Mối tình của Kiều và chàng Kim đang đến độ đắm say nhất, nồng nàn nhất.”gánh tương tư”của Kiều giờ đây nặng hơn bao giờ trêu thay, cơn gia biến ập đến với đang “giữa đường”, đang gánh một “gánh tương tư” nặng trĩu thì gánh đứt, không sao mang xách lại ảnh ấy đã thể hiện rõ tâm trạng bất lực của vì thế mà giờ đây, Kiều phó thác “gánh tương tư” bị gãy - hay nói theo cách của Kiều là tơ duyên mối vướng – lại cho em đối với Thuý Vân, đó là một “mối tơ thừa”.Kiều hiểu thấu cảm giác thiệt thòi của em nên nói thẳng ra”Mặc em”, có nghĩa là “phó mặc cho em đó, dang dở hay không em cũng phải gánh vác, chắp nối cho hết sức mong em dùng thứ keo bền nhất – “keo loan”, thứ keo chế bằng huyết chim loan – để “chắp mối tơ thừa” này và sao cho nó không bao giờ đứt nói này mang giọng điệu của người chị phó thác cho em, nên câu thơ mang sắc thái dứt khoát, nghiêm trang và mang nhiều “sức nặng” của giọng điệu. Không còn gì để mất nữa, đến lúc này Kiều có thể bình tĩnh nói cặn kẽ chuyện tình, nỗi đau của mìnhKể từ khi gặp chàng KimKhi ngày quạt ước khi đêm chén hềSự đâu sóng gió bất kìHiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn haiĐây là những điều bí mật của Kiều mà Thuý Vân chưa hề được biết, là điều lễ giáo phong kiến cấm kỵ, nhưng bây giờ, Kiều buộc phải thành thật kể cho em nghe, với hy vọng một sự thông cảm chia nói của Kiều thật bình tĩnh, rõ ràng và ngẹn ngào, cặn kẽ nỗi trùng điệp của ba điệp từ “khi””khi gặp”, ”khi ngày”, ”khi đêm” đã nói lên sự thề ước sâu nặng, không thể nuốt lời, càng khẳng định tình trạnng bế tắc của quan niệm tình yêu của mình khác với quan niệm tình yêu của xã hội phong kiến đương thờiĐó là sự cảm nhận yêu thương từ trong trái tim chứ không phải sự bức ép, ràng chăng Nguyễn Du đã cho Kiều phá vỡ quan niệm lạc hậu, bất công đối với tình yêu đôi lứa để hướng tới tình yêu đích thực của con người? Mối tình Kim-Kiều đang mặn nồng thì cơn gia biến ấp này đây Kiều phải chọn một trong hai”Hiếu” hoặc “tình” chứ không thể “hai bề vẹn hai” ra, trong hoàn cảnh “Hiếu-tình chọn một” thì Kiều vẫn có thể chọn “tình”, tức là bỏ mặt gia đình trong sự tra khảo dã man mà bỏ trốn, trọn đời bên chàng Kiều đã chọn “hiếu”, Kiều đã hy sinh mối tình với chàng Kim và thậm chí là cả tấm thân trinh trắng của mình để cứu lấy gia đã nói ra cái lý của mình và hy vọng em ắt sẽ thấu hiểu tâm trạng bi kịch của “sự đâu” như một lời oán trách số phận, ngoại cảnh đã gây “sóng gió bất kỳ” làm tan vỡ mối tình đầu sâu lại với cuộc trao duyên, sau khi kể rõ chuyện tình và nỗi đau của mình, Kiều chuyển sang phân tích ý nghĩa, gửi gắm em VânNgày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước nonChị dù thịt nát xương mònNgậm cười chín suối hãy còn thơm lây“Ngày Xuân” mang tính ước lệ, có ý tuổi trẻ của người con trẻ của em con dài và vì “tình máu mủ” giữa em và chị mà “thay lời nước non” giúp kêu gọi tình chị em máu mủ ruột thịt thiêng liêng, gợi dậy ở Vân đức hy sinh và lòng vị tha vì người được thõa nguyện, thì dẫu Kiều chết đi, dưới chín suối cũng hả dạ, vì có được tiếng thơm là người có tình điều đặc biệt ở đây là Kiều xem như mình đã chết, như người xuân em hãy còn dài” còn có ý nghĩa là “ngày xuân của chị đã hết rồi”, chị chỉ còn “thịt nát xương mòn” và “ngậm cười chín suối”, nơi cõi Du đã khéo léo tinh tế để cho dự cảm từ từ len lõi vào lời nói của ngoài tưởng như Kiều đã sắp đặt hết mọi chuyện nhưng sâu thẳng trong lòng là nỗi đau đớn tưởng chừng như có thể chết xong lời thỏa nguyện bình sinh và hàm ơn đối với em, Kiều liền trao kỷ vật kỷ niệmChiếc vành với bức tờ mâyDuyên này thì giữ vật này của chung.”Tờ mây” là tờ hoa tiên có vẽ vân mây, là tờ hoa tiên mà trên đó Kiều đã ghi lời thề“Tiên thề cùng thảo một chương”.Kiều trao duyên cho Vân thì những những vật kỉ niệm“chiếc vành”, ”tờ mây” trước đây thuộc về mối tình Kiều - Kim thì bây giờ đã thuộc về Vân – nên, khi đã gửi gắm “lời nước non”, việc hiển nhiên Kiều phải làm là trao những vật thiêng liêng ấy lại cho câu tiếp theo thật kỳ lạ”Duyên này thì giữ vật này của chung”!”Duyên đây là nhân duyên, duyên phận, cơ duyên, tức là sự run rủi cho số phận hai người trai gái gặp nhau, kết đôi với nhau và lấy nhau.”Duyên này” là duyên mà Kiều đã trao cho Vân, trở thành duyên của Vân với chàng Kim, cho nên Kiều dặn Vân phải giữ tại sao vật kỷ niệm này là của chung?Ở đoạn trên, du thuyết phục em bằng lí, hay bằng tình hay bằng cả hai thì vẫn là ngôn ngữ của lí trí, giọng thơ đều đều, trầm đây thì lời thơ như nấc “gút” tâm trạng đầu đoạn trích đã được “mơ”û ra nhưng dường như giờ lại bị “thắt” lại thể hiện qua lời nói bất bình “thắt” này chính là nút thắt của nội tâm lẽ ấy là lời lẽ của nội tâm Kiều bất chợt thốt ra trước sự thật cay đắng và phũ phàngVật nàyChiếc vành, Tờ mây là của nàng, chàng Kim là của nàng, sao bây giờ lại là của Vân?Nội tâm rối bời, giằng xé ấy thể hiện Kiều còn muốn giữ lại cho mình, cho quá khứ chôn sâu trong trái tim Kiều, không muốn trao hoàn toàn cho em, thể hiện tâm trạng day dứt, vướng víu, níu kéo của Kiều đối với những kỷ niệm tình yêu của mình với chàng Kim hay nói khác hơn là Kiều “trao mà không trao”trao kỷ vật tình yêu cho em mà không tài nào dứt ra khỏi mối đó chứng tỏ”Kiều trao duyên chứ không trao tình”.Đó là một sự thật đau đớn lòng, khiến cho bao đoc giả phải cảm câu thơ trên là tình tiết chính của cuộc trao duyên nên mang nhiều ý nghĩa biểu tượng và trữ tình rất Du thật tinh tế và cũng thật nhân bản trong ý thơ của với hai câu thơ mà ông đã chuyển tải đến độc giả nhiều khía cạnh tâm trạng của Kiều hay mang tính khái quát hơn là của cả những người con gái đang yêu trong xã hội phong kiến đương thời và thậm chí ở xã hội hiện đại ngày nay”Khi đang yêu, ai lại muốn trao duyên bao giờ?”Từ nay, những kỷ vật Kiều trao lại cho em còn là vật làm tin nhắc nhở đến Kiều, để khi Vân có được hạnh phúc thì đừng quên KiềuDù em nên vợ nên chồngXót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quênMất người còn chút của tinPhím đàn với mảnh hương huyền ngày xưaÝ nghĩ của Kiều thật chua chát, tủi đọng lại ở câu”Dù em nên vợ nên chồng”.Trao duyên cho em rồi, cũng đã trao trả kỷ vật lại cho em, đã “cậy” em, ”lạy”em, biết bao nhiêu khẩn khoản, tin tưởng…ấy thế mà Kiều vẫn đặt một giả thiết, như có điều gì đó vẫn chưa ổn, chưa tự thấy mình đáng thương biết bao, mình là “người mệnh bạc” để cho người khácem Vân phải “xót”, phải thương hại!Cây đàn hồ đào ngày nào Kiều đàn cho chàng Kim nghe, và mảnh hương huyền ngày nào từng chướng kiến hai người thề nguyền cũng để lại cho em như là vật của với Kiều, chúng đã trở thành quá khứ xa xôi của “ngày xưa”.Trớ trêu thay, ”của tin” vẫn còn đó mà người thì lại “mất””Mất lòng còn chút của tin” – lời nói của Kiều đề cập đến cái chết mà vẫn mang âm điệu trầm trầm, vẻ như “chuyện tất yếu” - khiến cho nhiều độc giả nhạy cảm phải “nhói lòng”.Ý nghĩ về cái chết cứ trở đi trở lại, ám ảnh là khi trao kỷ vật tình yêu cho em, Kiều cảm thấy như mình đã chết, bởi khi mất đi tình yêu, cuộc sống đối với Kiều chẳng còn ý nghĩa gì như người mất hồn, vẫn ngồi đây, mà hồn thì bay xa xăm tận “mai sau”Mai sau dù có bao giờĐốt lòng hương ấy so thơ phím nàyTrông ra ngọn cỏ lá câyThấy hiu hiu gió thì hay chị vềKiều đã mất hết hiện lai của nàng trông chờ vào lòng sau khi em “đốt hương”, chơi đàn“so tơ” – những lúc hạnh phục thì hãy nhớ đến cách hình dung oan hồn bơ vơ của mình nơi mai sau thật là thê thảmKiều sau này chỉ là một ngọn gió vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ! Còn gì để thương cảm hơn là gợi lên những hình ảnh hư vô?Kiều bị ám ảnh bởi oan hồn của Đạm gặp chàng Kim tại nơi gần mộ Đạm Tiên, đi chơi xuân về cũng gặp mộ Đạm Tiên…Trước mộ của Đạm Tiên, nghe em Vương Quan kể về số phận đau thương của nàng, Kiều không cầm nổi nước mắt”Kiều đâu mối sẵn thương tâm-“Thoắt nghe, Kiều đã đầm đầm châu sa”.Nay số phận Kiều cũng éo le như như của Đạm nên, ”hồn” của Kiều cũng giống như hồn Đạm Tiên”ào ào đổ lộc rung cây” - có ý thức quay về cõi trầnHồn còn mang nặng lời thềNát thân bồ liễu đền nghì trúc maiThì ra, ”hồn” của Kiều vẫn chưa dứt nổi chàng của Kiều là “hồn mang nặng lời thề”.”Lời thề”ở đây chính là lời thề đêm thềnguyền vằng vặc ánh trăng mà Kiều không bao giờ quên được”Vầng trăng vằng vặc giữa trời-Đinh ninh hai miệng một lời song song”.”Lời thề” ấy của Kiều với chàng Kim đối với nàng cực kỳ quan đã”trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” với chàng thế, dù có tan tành thân xác “bồ liễu, dáng vẻ”trúc mai”, Kiều cũng quyết gặp lại trực tiếp chàng Kim để “đền nghì” cho chàng là một ý thức, một tấm lòng, một tư tưởng mà không phải người con gái nào cũng có thủy chung của Kiều vẫn được thể hiện rõ nét, đậm đà và càng sâu sắc hơn trong hoàn cảnh ngặt đối với Vân, khi “hồn Kiều quay trở về dương gianDạ đài cách mặt khuất lờiRưới xin giọt nước cho người thác oan“Dạ đài” là nơi âm phủ tăm ấy, một người là con người cõi trầnThúy Vân, một kẻ là hồn ma âm phủThuý Kiều.em và chị sẽ “cách mặt khuất lời”, tức là sẽ không thấy được nhau và cũng không nghe được tiếng nói của đó, em hãy rảy chén nước cho “người thác oan” là chịTheo quan niệm tôn giáo cổ truyền thì nước tinh khiết có thể tẩy rửa nỗi oan khuất, làm cho oan hồn được mát mẻ siêu thoát.Qua đó chứng tỏ Kiều tuy tự nguyện hy sinh, bán mình chuộc cha, nhưng vẫn ý thực được mình bị oan uổng cho nên sau khi chết, hồn oan không tình cảnh ngặt nghèo như vậy, Kiều vẫn có ý thức nhận biết và đấu tranh đến cùng đối với sự bất công của xã hội phong kiến đương thời.”Trâm gãy gương tan” là hình ảnh của tình duyên tan đã nhận của chàng Kim “muôn vàn ái ân” đến nỗi “kể làm sao xiết” mà giờ đây Kiều lại phản bội, thất hứa, làm “tơ duyên ngắn ngủi”, ”trân gãy gương tan”.Nghẹn ngào, cay đắng, xót xa – bấy nhiêu tâm trạng đối diện với trao duyên cho em Vân, nhờ em “thay lời nước non” với chàng Kim, Kiều vẫn thấy mình chịu muôn vàn tội lỗi nên nàng đã gửi lại “trăm nghìn cái lạy” cho “tình quân”-người đã cùng nàng trải qua bao kỷ niệm tình yêu nồng nàn, say đắm, đã cùng nàng thề nguyền trăm năm bên nhau mà cuối cùng lại bị nàng phản bội-mà vẫn cảm thấy chưa đây ít phút, nàng đã “lạy” em Vân của mình để cầu xin em nối duyên với hẳn với cái lạy “mang ơn”, cái “lạy” này là cái lạy tạ tội vô cùng thống tình cảnh này, Kiều vẫn không thể làm gì hơn ngoài sự tạ cái lạy đó đối với Kiều đã kết thức mối tình đầu ngắn ngủi, đầy tiếc duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi” Kiều thốt lên sao mà thấm đượm vị chua chát, cay đắng của sự chia ly lứa đây, Kiều mới thấm thía nỗi cô đơn và số phận của mình giữa cõi đời bất côngĐoạn thơ “Trao Duyên” đúng là Kiều đã nói hết lời“cạn lời”.Lời trao duyên như nói một lời trăn trối, vĩnh lời trao duyên, tình yêu thật mặn nồng, say đắm, hạnh phúc, sau lời trao duyên mình đã trắng tay, đôi lứa chia ly, tình yêu tan khi trao duyên mình là người sống, sau khi trao duyên mình là hồn oan nơi chín tài năng tuyệt vời của mình, Nguyễn Du hình dung rất rõ và thể hiện rất thành công số phận bi kịch, nội tâm rối bời, tâm trạng đau khổ, dằng vặc, cay đắng, xót xa và tuyệt vọng trong cuộc trao duyên của Kiều với việc sử dụng một cách khéo léo, tinh tế, sắc sảo từ ngữ, nhiều biện pháp nghệ thuật thích hợp, kết hợp linh động lời kể với lời tự tình, lời độc thoại, ……, làm cho đoạn”trao duyên” trở thành đoạn thơ lâm li nhất trong Truyện đó cũng là lý do vì sao Truyện Kiều trở thành bất hủ!Nghị luận văn học đoạn trích Trao duyên mẫu 4Nguyễn Du 1766-1820 tuy đã sống cách đây gần thế kỷ, thế nhưng hệ tư tưởng và cách nhìn nhận về số phận cuộc đời con người và bối cảnh xã hội đương thời có nhiều tiến bộ, thấm thía và sâu sắc, khiến muôn đời phải trầm trồ nể phục. Trong số các tác phẩm của Nguyễn Du, Truyện Kiều được xếp vào hàng kiệt tác kinh điển bậc nhất của nền văn học Việt Nam, cũng như có một giá trị nhất định trên trường văn học thế giới với đề tài về số phận của con người. Sở dĩ Truyện Kiều được đánh giá cao là bởi nó chứa đựng những nội dung mang giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc, không chỉ xót thương, thông cảm cho số phận của người phụ nữ xưa, mà còn phản ánh về một chế độ xã hội thối nát lắm chuyện bất công với người phụ nữ yếu đuối. Bên cạnh đó những giá trị nghệ thuật đặc sắc trong Truyện Kiều cũng làm nên những phương diện thẩm mỹ phong phú, uyển chuyển cho một tác phẩm dài, gây ấn tượng mạnh với độc giả muôn đời. Nhân vật chính của tác phẩm là Thúy Kiều, một người con gái tài sắc vẹn toàn, thế nhưng lại có một cuộc đời ngang trái, truân chuyên bậc nhất. "Trao duyên" là một trong những đoạn trích nổi bật thể hiện được rõ những vẻ đẹp trong tâm hồn của nhân vật cũng như những nỗi đớn đau bất hạnh đầu tiên mở đầu cho một cuộc đời hồng nhan nhiều sóng Kiều có một cuộc đời tưởng chừng như toàn vẹn hạnh phúc, khi là con gái cưng của một viên ngoại, gia cảnh sung túc, nàng lại có nhan sắc xinh đẹp và tài năng cầm kỳ thi họa có một không hai, đồng thời nhân lúc tuổi xuân thì phơi phới nàng thiếu nữ cũng tìm được cho mình một mối lương duyên tốt đẹp là chàng Kim Trọng. Tuy nhiên có lẽ rằng, trời không cho ai tất cả, hoặc họa chăng là cuộc đời Kiều sinh ra vốn đã bị tạo hóa ghen ghét đố kỵ, cùng với sự bất công của chế độ phong kiến thời bấy giờ thế nên nàng mới lần lượt rơi vào một hố đen không lối thoát suốt 15 năm trời đằng đẵng. Thúy Kiều đã từ một cô gái có cuộc sống ấm êm, thế mà chỉ trong một đêm nhà tan cửa nát, cha và em bị bắt đi, gia sản bị niêm phong, sóng gió ập xuống trên đôi vai bé nhỏ và buộc nàng phải đỡ lấy. Nhưng lúc này đây bao nhiêu sự tài sắc, thông minh vốn sẵn tính trời của Thúy Kiều cũng chẳng thể xoay chuyển nổi một chút càn khôn, để đưa gia đình về lại như trước. Lúc này đây người ta mới thấy số phận của người phụ nữ phong kiến, số phận của Thúy Kiều thật mỏng manh và tội nghiệp. Trước thực cảnh như vậy, Thúy Kiều đã trăm đường suy nghĩ, có lẽ vẻ đẹp đầu tiên của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên là đến từ tinh thần và ý thức trách nhiệm gánh vác gia đình với vai trò là con trưởng. Kiều đã muôn vàn đắn đo giữa chữ hiếu và chữ tình, giữa công ơn dạy dỗ, nuôi nấng của mẹ cha, với tình yêu hẹn thề gắn bó cùng Kim Trọng, giữa gia đình với người nàng yêu sâu sắc. Cuối cùng Thúy Kiều đã quyết tâm làm tròn chữ hiếu và phụ đi chữ tình, đó là một quyết định có thể nói là vô cùng khó khăn với một cô gái tuổi vừa cập kê, nhưng trong thứ lễ giáo mà nàng từng được học đó là một quyết định hợp lý. Chọn chữ "hiếu" rồi, nhưng làm sao để làm tròn chữ ấy thì cũng lại là một mối lo khác. Và khi nghe đến việc Kiều bán mình làm vợ lẽ cho người ta để đổi lấy vài trăm lượng bạc chuộc cha và em, ta bỗng cảm thấy thật xót xa, tiếc hận. Một cô gái nhan sắc, tài năng, tính cách đều thuộc hàng bậc nhất, vậy mà cuối cùng lại đành phải chôn vùi cả tuổi thanh xuân cùng với một người đàn ông đáng tuổi cha chú, không chỉ vậy mà còn phải chịu cảnh chung chồng. Còn gì buồn tủi, đớn đau hơn nữa, khi Kiều từ một viên ngọc quý cha mẹ hết lòng nâng niu, bỗng trở thành món hàng rẻ mạt mặc sức cho người ta ngã giá chào thưa. Thật buồn thay cho phận đàn bà lắm chông chênh! Ở đoạn trích Trao duyên, chúng ta sẽ không chỉ thấy được tấm lòng hiếu thảo của Kiều khi chấp nhận bỏ mối lương duyên với Kim Trọng để cứu gia đình, mà còn nhận ra sự thông minh khôn khéo của nàng trong cảnh trao duyên cho em gái Thúy Vân. Tự hỏi rằng Thúy Kiều có ích kỷ quá không, khi vừa muốn trọn hiếu lại càng muốn trọn tình với Kim Trọng? Thì xin được trả lời rằng Thúy Kiều quả thực có ích kỷ, nhưng có lẽ so với cái hy sinh của nàng thì Kiều đáng có được sự ích kỷ ấy. Kiều thừa hiểu rằng việc trao duyên cho em là một chuyện hết sức khó khăn và không dễ mở lời. Thế nên nàng đã rào trước đón sau rằng"Cậy em em có chịu lờiNgồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa"Rõ ràng Kiều làm vậy là đã đưa Thúy Vân vào thế bị động ngay cả khi nàng còn chưa hiểu rõ sự tình, nhưng có lẽ cũng hiểu được tầm quan trọng của sự việc. Kéo Thúy Vân ra khỏi sự vô lo vô nghĩ, đồng thời trao cho nàng một phần trách nhiệm, dẫn đến việc Vân khó có thể từ chối khi chính chị gái mình đã dùng một ngữ điệu khẩn khoản, vừa "cậy" vừa "lạy" như thế. Thế rồi nàng nhanh chóng kể vắn tắt cuộc tình của mình với Kim Trọng đồng thời cũng giải thích những nỗi day dứt, "Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai của mình", để nhận được sự thấu hiểu và thông cảm của em gái. Đó chính là cơ sở để Thúy Kiều có thể nhờ em chắp nốt mối duyên thừa với Kim Trọng, để cho nàng được trọn nghĩa mà an tâm ra đi. Nhưng Kiều không chỉ ép duyên Thúy Vân một cách cứng nhắc, dồn Vân vào thế, mà nàng cũng rất tinh tế bộc lộ sự thấu hiểu của mình đối với cảnh ngộ của Thúy Vân."Ngày xuân em hãy còn dàiXót tình máu mủ thay lời nước nonChị dù thịt nát xương mònNgậm cười chín suối hãy còn thơm lây"Kiều biết Thúy Vân còn trẻ tuổi, lại không yêu Kim Trọng, giờ đây buộc phải giúp mình làm trọn nghĩa kết tóc quả thực là điều bất công, bởi lẽ sau này cuộc đời Thúy Vân có lẽ cũng không có được hạnh phúc thật sự. Nàng không được quyền chọn lựa, mà phải chắp mối duyên thừa của chị một cách miễn cưỡng. Đồng thời, câu thơ "ngày xuân em hãy còn dài" cũng bộc lộ những nỗi xót xa chôn giấu trong lòng Kiều, ngày xuân của Thúy Vân còn dài, của mình chẳng lẽ lại không, thế mà dường như sau ngày hôm nay Kiều sẽ chẳng còn biết gì đến xuân sắc, đến hạnh phúc được nữa, khi nàng đang phải bước vào một con đường mà đã định sẵn là nhiều đau khổ. Cuối cùng để thuyết phục Thúy Vân thêm lần nữa, Kiều đã lấy cả tình máu mủ ruột già, lấy cả cái tấm lòng mong mỏi "thịt nát xương mòn", dù chết cũng cam nguyện để khiến Thúy Vân thấu hiểu và đồng khi nhận được cái gật đầu của Thúy Vân, Kiều đã trao lại cho em tất cả tín vật giữa mình và Kim Trọng như một nghi thức trao duyên, từ "chiếc vành" đến "bức tờ mây". Tuy nhiên nàng rõ ràng đã dứt khoát trao duyên nhưng lại vẫn thốt ra một câu nói rất mâu thuẫn "Duyên này thì giữ vật này của chung". Hóa ra Thúy Kiều không mạnh mẽ như ta tưởng tượng, bên cạnh sự thông minh khéo léo, sắc sảo thuyết phục trao duyên cho em, thì ta thấy ở nàng còn là nỗi buồn bã, đau khổ, nhiều tiếc nuối trước chuyện tình tan vỡ. Kiều dù để Thúy Vân gả cho Kim Trọng thế nhưng lại vẫn muốn hai vợ chồng em phải nhớ đến kẻ xấu số là mình, vẫn muốn những vật kỷ niệm là cùng chung sở hữu ba người. Tức là trong mối duyên của Thúy Vân thì Thúy Kiều vẫn muốn mình còn có được một chút tồn tại. Mặc dầu đó là tâm tính ích kỷ, nhưng có lẽ phàm là người, ai trong hoàn cảnh của Kiều cũng sẽ ích kỷ và tư tâm như vậy mà thôi. Kiều không đáng kết thúc phần trao duyên, Thúy Kiều quay trở lại với những nỗi đau đớn của mình, chữ hiếu đã gần như trọn, chỉ còn chữ tình dở dang, Thúy Kiều không gắng gượng nữa nàng bộc lộ hẳn nỗi đau đớn, vật vã trước tình cảnh của mình bằng những câu thơ đoạn trường, day dứt."Bây giờ trâm gãy bình tan,Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!Trăm nghìn gửi lạy tình quânTơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy sao phận bạc như vôi?Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ Kim Lang! Hỡi Kim lang!Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"Kiều thốt lên những tiếng khóc đau đớn trước mối duyên "trâm gãy bình tan", đồng thời bộc lộ tình yêu thương tha thiết với Kim Trọng "kể làm sao xiết muôn vàn ái ân", rồi cuối cùng là lời tạ lỗi, từ biệt đầy xót xa dành cho tình lang "Trăm nghìn gửi lạy tình quân/Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi", để xem như là lời kết thúc cho mối duyên ngắn ngủi của mình với chàng Kim. Đồng thời Thúy Kiều lúc này cũng ý thức một cách rất rõ ràng cái số kiếp hồng nhan bạc mệnh của mình, vừa bạc như vôi trắng, lại lênh đênh, lạc lõng, mỏng manh như cánh hoa trôi theo dòng nước. Hai câu thơ cuối là tiếng khóc đoạn trường, đau đớn đến tột cùng của người con gái bất hạnh trước nghịch cảnh của cuộc đời mà có lẽ lời thơ tựa như rỏ máu, ngập tràn nước mắt tựa như chính cuộc đời Kiều về nghệ thuật đoạn trích Trao duyên của Truyện Kiều nổi bật nhất là nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật, bằng những vần thơ tài tình Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy đầy đủ những cung bậc cảm xúc, cũng như suy nghĩ của Thúy Kiều trong lúc trao duyên. Không chỉ là sự suy tính cẩn thận chu toàn sao cho trọn tình, trọng nghĩa, mà còn cả tâm lý ích kỷ trong tình yêu, rồi cả những đớn đau tột cùng của Kiều khi tình yêu tan vỡ, đồng thời còn là cả những dự cảm không lành về cuộc đời của mình. Thể rất rõ chân dung của người phụ nữ tài hoa bạc mệnh nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam, mang đến cho độc giả sự thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc mà không phải tác giả nào cũng làm được như trích Trao duyên là một trong những đoạn trích hay và đặc sắc nhất của Truyện Kiều mà ở đây bức chân dung chân thực nhất về Thúy Kiều đã được bày tỏ. Kiều không chỉ mang trong mình những vẻ đẹp tâm hồn đáng quý như tấm lòng hiếu thảo, trọn tình trọn nghĩa, hay sự thông minh, khéo léo hiếm có mà bên cạnh đó còn bộc lộ những mặt rất "con người" khi tác giả gợi tả cả sự ích kỷ, tiếc nuối, không cam lòng trong tình yêu với Kim Trọng của nàng. Đồng thời bộc lộ rõ nét tâm trạng đau đớn đoạn trường của Kiều trước những sóng gió ập tới giai đoạn đầu luận văn học đoạn trích Trao duyên để thấy sau những giây phút đau đớn tột cùng, nàng Kiều rơi vào nỗi đau khổ và tuyệt vọng cùng cực, nàng nghĩ về Kim Trọng và càng đau xót hơn. Bài viết cho ta thấy tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng đang tươi đẹp, nồng nàn thì Kim Trọng phải về Liêu Dương hộ tang chú. Trong khi đó tai họa đổ ập xuống gia đình Thúy Kiều. Trước biến cố đau lòng đó, một người giàu tình cảm, giàu đức hy sinh như Thúy Kiều không còn cách nào khác là phải bán mình lấy tiền cứu cha và em. Nhưng còn mối tình với Kim Trọng, nàng quyết định nhờ em thay mình lấy Kim Trọng. Hiếu – tình là hai giá trị tinh thần không thể đặt lên bàn cân được. Một xã hội bắt con người phải lựa chọn những giá trị không thể lựa chọn được thì xã hội đấy là một xã hội tàn bạo, và sau cùng Kiều đã chọn Hiếu. Cho nên hy sinh chữ tình, nàng Kiều coi như không tồn tại trên cõi đời này nữa. Mỗi lời của nàng không phải là nước mắt mà là máu đang rỉ ra trong lòng. Đấy chính là lời tố cáo vọng đến thấu trời của Nguyễn Du đối với xã hội đã chà đạp lên hạnh phúc của con người. Mỗi lời của nàng là một lời vận vào. Trước nỗi đau đớn xót xa này, nàng chỉ trách mình là phận bạc. Chính tâm lý mặc cảm tội lỗi cao thượng đó khiến nàng chết ngất trong tiếng kêu thương thấu trời. Chúng ta cũng cảm nhận được Thúy Kiều là một cô gái giàu tình cảm, giàu đức hi sinh, có ý thức về tình yêu và cuộc sống. Một nhân cách như vậy mà vừa chớm bước vào đời như một bông hoa mới nở đã bị sóng gió dập vùi tan tác. Đại thi hào Nguyễn Du đã phác họa thành công bi kịch tình yêu của nàng Kiều, nhưng vẫn ánh lên một nàng Kiều giàu lòng trắc ẩn với nhân cách cao bài lớp 10 Trao duyênPhân tích đoạn thơ Trao duyên trong Truyện Kiều của Nguyễn DuCảm nhận về 8 câu thơ cuối bài Trao duyên..................................................Trên đây VnDoc tổng hợp các dạng bài văn mẫu Nghị luận văn học đoạn trích Trao duyên cho các bạn tham khảo ý tưởng khi viết bài. Ngoài ra các bạn có thể xem thêm chuyên mục Soạn văn 10 mà VnDoc đã chuẩn bị để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 10 và biết cách soạn bài lớp 10 và các tác giả - tác phẩm Ngữ văn 10 trong sách Văn tập 1 và tập 2. Mời các em học sinh, các thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham khảo...Để giúp các bạn có thể giải đáp được những thắc mắc và trả lời được những câu hỏi khó trong quá trình học tập. mời bạn đọc cùng đặt câu hỏi tại mục hỏi đáp học tập của VnDoc. Chúng tôi sẽ hỗ trợ trả lời giải đáp thắc mắc của các bạn trong thời gian sớm nhất có thể tiếp theo Nghị luận về nhân vật Ngô Tử Văn

nghị luận văn học trao duyên 18 câu đầu